Không Nói Đến Nhân Quyền Liệu Tổng Thống Donald Trump Có Hậu Thuẫn Cho Dân Chúng VN Không?

Parent Category: Thư Viện Category: Thuộc về lịch sử

Tôn Nữ Hoàng Hoa, 11/15/2017

Phải nói rằng trong nhiệm kỳ của Tổng Thống Donald Trump vấn đề Nhân Quyền đã không được chính quyền này quan tâm đến trong 9 tháng qua.

Trump đại diện cho Hoa Kỳ tốt hơn nhiều trong chuyến Á du, so với Obama đã từng làm

Parent Category: Thư Viện Category: Thuộc về lịch sử

By Steven W. Mosher | Fox News 11/15/2017

(Tường Giang chuyển ngữ)

Tổng Thống Donald Trump đã làm cho chúng ta hãnh diện trong chuyến Á du của ông – ít nhất là đối với những người trong số chúng ta vẫn cảm thấy hãnh diện mình là những công dân Hoa Kỳ hơn là những công dân của thế giới. Ông đã đạt được những điểm số chỉ bằng cách hành xử như một nhà lãnh đạo của đất nước Hoa Kỳ và là lãnh đạo của thế giới Tự Do.

Trung Quốc biến "Đường 9 Đoạn" thành Tứ Sa!

Parent Category: Thư Viện Category: Thuộc về lịch sử

Trung Quốc biến "Đường 9 Đoạn" thành Tứ Sa!

Lữ Giang, 5/10/2017

Hôm 21.9.2017, trang báo mạng The Washington Free Beacon ở Washington DC công bố một tài liệu mới cho biết Bắc Kinh đã thông qua chiến thuật mới về chủ quyền trên Biển Nam Trung Quốc (tức Biển Đông): Nhóm đảo "Tứ Sa" thay thế Đường 9 Đoạn bất hợp pháp!

Tại sao phải "đả phá" Ls. Trần Kiều Ngọc (LTD)

Parent Category: Thư Viện Category: Thuộc về lịch sử

HIỆN TƯỢNG LS. TRẦN KIỀU NGỌC

Gần đây tôi có nghe Luật Sư TRẦN KIỀU NGỌC nói chuyện hoặc đọc nhiều bài viết về cô. Đối với tôi TRẦN KIỀU NGỌC là một hiện tượng xuất hiện đáng mừng, quá tốt cho đất nước và dân tộc Việt Nam ngày nay. Một người trẻ, có kiến thức, xinh đẹp, nói năng lưu loát, thuyết phục, dám hy sinh, dấn thân, đứng ra thành lập tổ chức kêu gọi tuổi trẻ Việt Nam trong và ngoài nước hãy cùng nhau đứng lên tranh đấu để giải thể chế độ tàn ác Việt Nam. một tập đoàn cầm quyền chỉ biết giết người cướp của và làm tay sai bán nước cho Tàu. Tuổi trẻ là tương lai của đất nước, tất cả các cuộc cách mạng làm nên lịch sử thế giới đều phải trông nhờ vào lực lượng của tuổi trẻ.

BP Đặng Văn Âu gởi nhà văn Trần Thị Bông Giấy, thứ số 4

Parent Category: Thư Viện Category: Thuộc về lịch sử

Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử

Tại Sao Hoa Kỳ Bỏ Rơi VNCH?

Thư Thứ Tư Viết Cho Nhà Văn Nữ Trần Thị Bông Giấy

Bằng Phong Đặng Văn Âu

Thành phố Westminster, Quận Cam, California,

Ngày 16 tháng 9 năm 2017.

Em Trần Thị Bông Giấy thân mến,

Trước khi đi vào chủ đề “Tại sao Hoa Kỳ bỏ rơi VNCH” như đã hứa với em, anh xin kể em nghe mẩu chuyện bên lề.

BP Đặng Văn Âu gởi nhà văn Trần Thị Bông Giấy, thứ số 3

Parent Category: Thư Viện Category: Thuộc về lịch sử

Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử

Thư Thứ Ba Viết Cho Nhà Văn Nữ Trần Thị Bông Giấy

Bằng Phong Đặng Văn Âu

Thành phố Westminster, Quận Cam, California,

Ngày 19 tháng 8 năm 2017.

Em Trần Thị Bông Giấy thân mến,

BP Đặng Văn Âu gởi nhà văn Trần Thị Bông Giấy, thứ số 2

Parent Category: Thư Viện Category: Thuộc về lịch sử

Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử

Thư Thứ Hai Viết Cho Nhà Văn Nữ Trần Thị Bông Giấy

Bằng Phong Đặng Văn Âu

Thành phố Westminster, California,

Ngày 3 tháng 8 năm 2017.

Em Trần Thị Bông Giấy thân mến,

Đến hôm nay, vừa xong chuyện thù tiếp bạn bè từ phương xa về thăm Quận Cam, anh mới có thì giờ ngồi viết tiếp bức thư tâm tình để gửi cho em.

BP Đặng Văn Âu gởi nhà văn Trần Thị Bông Giấy, thứ số 1

Parent Category: Thư Viện Category: Thuộc về lịch sử

Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử

Tâm Tư Người Lính VNCH Nhân Ngày Quân Lực 19 Tháng 6

Thư Thứ Nhất

Bằng Phong Đặng Văn Âu

Thành phố Westminster, California, Ngày 17 tháng 6 năm 2017

Trần thị Bông Giấy thân mến,

Đây là lần đầu tiên trong tập “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử”, anh tâm tình với một nhà văn, nhà văn nữ. Thuở nhỏ, anh nhớ thầy giáo dạy môn văn định nghĩa hai chữ Văn Chương như sau: Văn là vẻ đẹp; Chương là vẻ sáng. Văn Chương là vẻ đẹp trong sáng.

Con Của Hải Tặc

Parent Category: Thư Viện Category: Truyện Ngắn, Thơ

SMCĐ: Tình cờ, quen biết với tác giả qua FB và biết bà đã từng ở trại tị-nạn Panat Nikhom, Thái-Land cùng thời với tui :) Bài được trích trong Tuyển Tập "Buồn Vui Đời Tị-Nạn" sắp phát hành.


Mới tắm xong, trên đường đi về nhà, thấy dáng te tái bước thấp bước cao của chị Ngao (chị vốn bị thọt chân) hớt ha hớt hải đi về phía tôi, nói không kịp thở:

- Nãy giờ em đi tắm, hèn chi chị tìm không ra. Nè, con Phương đau bụng đẻ dữ dội, mấy người mới đưa nó lên bệnh viện đó, em đi với chị ra đó ngay!

Vô Nam - Ngô Đình Châu

Parent Category: Thư Viện Category: Thuộc về lịch sử

Bài đọc suy gẫm: Vô Nam. Bài này trích trong quyển "Chính Biến 1-11-1963 & TT Ngô Đình Diệm" của tác gỉả Ngô Đình Châu, do nhà báo THẰNG MÕ San Jose xuất bản năm 2009, nơi trang 56 với tiêu đề: "Cuộc di cư chạy trốn cộng sản vĩ đại vào nam  1954 - 1955".  Hình ảnh chỉ là minh họa.
 

 

 

 



 Cuộc di cư vĩ đại chạy trốn Cộng Sản 1954-1955

Trong những năm đầu tiên của chế độ, khi toàn dân cùng với chính quyền bắt tay vào việc xây dựng đất nước, thì đã gặt hái được những thành quả ngoạn mục như sau: 

Trước hết là việc chuyên chở và định cư cho hơn 900.000 người di cư, trong đó có gần 700.000 người Công giáo. Việc chuyên chở người di cư từ Bắc vào Nam được kế hoạch và sử dụng phương tiện chuyên chở của Pháp và Mỹ. Còn việc định cư thì hoàn toàn chỉ do tiền viện trợ của Mỹ đài thọ. Công cuộc định cư sở dĩ hoàn thành mau chóng và tốt đẹp là một phần nhờ ông Diệm đã chọn được, những vùng đất phì nhiêu rộng lớn cho dân di cư. Ví dụ như ông Diệm đã:

- Lấy đất Cái Sắn màu mỡ cấp phát cho 45.000 nông dân.

- Lấy bờ biển Bình Tuy và đảo Phú Quốc, nổi tiếng nhiều hải sản cho dân chài  lưới.  

- Lấy Long Khánh, Định Quán, Gia Kiệm, Hố Nai cho dân khai thác lâm sản và làm đồ mộc. 

- Lấy Ban Mê Thuột và Cao Nguyên đất đỏ phì nhiêu cho dân trồng trọt hoa mầu xuất cảng.  

- Lấy vùng Ngã Ba Ông Tạ, Tân Bình, Gò Vấp chung quanh Sài Gòn cho dân thương mãi và kỹ nghệ …

        Nhờ tiền bạc dồi dào của Mỹ, nhờ chính quyền dành cho mọi sự dễ dàng, nhờ Tổng Thống Diệm chú tâm nâng đỡ, chẳng bao lâu người dân di cư miền Bắc đã hội nhập dễ dàng vào cuộc sống của dân miền Nam, mà trước đó họ coi là vùng đất xa lạ.

Và cũng chẳng bao lâu, đời sống dân di cư đã đi từ ổn định, đến trù phú còn hơn cả dân địa phương. Công cuộc định cư mau chóng và tốt đẹp cho hơn 900.000 người di cư, đã làm cho các quốc gia trên thế giới, nhất là Hoa Kỳ phải khâm phục. Một bác sĩ trẻ của Hải Quân Mỹ, ông Tom Dooley, một nhân vật rất mộ đạo Thiên Chúa, từng tham gia vào việc chuyên chở người Bắc di cư vào Nam, Ông nhận thấy tinh thần chống Cộng cao độ của người Thiên Chúa giáo Việt Nam, nên ông đã tình nguyện ở lại miền Nam để thực hiện nhiều công cuộc nhân đạo, viết sách ca ngợi công trình di cư và định cư, làm cho nhân dân Mỹ càng thêm kính phục Tổng Thống Ngô Đình Diệm.  

Đây là một thành công lớn về mặt xã hội của chính quyền VNCH.

Trong những năm 1955–5196. Ngoài công cuộc định cư cho dân miền Bắc, nhiều cải cách xã hội, cũng như những biến cố chính trị tốt đẹp khác, càng làm tăng thêm uy tín của ông Diệm:

- Ngày 4 tháng 4 năm 1956, Chính Phủ bắt ông Ưng Bảo Toàn, Tổng Giám Đốc thương mãi ở Bộ Kinh tế vì tội bán gạo chợ đen cho VC.

- Ngày 28 tháng 4 năm 1956, quân đội viễn chinh Pháp xuống tàu về nước.

- Ngày 13 tháng 7 năm 1956, xử tử tướng Ba Cụt, một vị lãnh tụ nghĩa quân Hòa Hảo, chấm dứt tình trạng mất ổn định tại miền Tây Nam phần.

- Ngày 21 tháng 8 năm 1956, Chính Phủ bắt ông Vũ Đình Đa và đồng bọn về tội biển thủ mấy triệu bạc của Ngân Hàng Quốc Gia.

- Ngày 26 tháng 10 năm 1956, ông Diệm tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa.

Sau trận Điện Biên Phủ, Hiệp Định Genève được ký kết giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Pháp, tạm thời chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17. Hệ thống bộ máy dân sự và lực lượng quân sự của chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được tập trung ở miền Bắc, và hệ thống bộ máy dân sự và lực lượng quân sự của chính quyền Liên Hiệp Pháp được tập trung ở miền Nam, chờ ngày tổng tuyển cử tự do, dự kiến sẽ xảy ra vào ngày 20 tháng 7 năm 1956. Điều 14 phần (d) của Hiệp định cho phép người dân ở mỗi phía di cư đến phía kia, và yêu cầu phía quản lý tạo điều kiện cho họ di cư trong vòng 300 ngày sau thoả hiệp đình chiến (Điều 2), tức chấm dứt vào ngày 19 tháng 5 năm 1955.

Để giám sát thực thi hiệp định, Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến được thành lập theo điều 34 của Hiệp Định với đại diện của ba nước Ấn Độ, Ba Lan, và Canada.

Theo tuần báo Time, những người di cư vào miền Nam, đặc biệt những người Công giáo Việt Nam, cho rằng họ đã bị đàn áp tôn giáo dưới chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Cộng Sản). Nhiều người lại vì lý do chính trị : họ là những người làm việc cho Pháp, hay giới tư sản, tiểu tư sản không có cảm tình với Chính Phủ Cộng sản. Một số người là nạn nhân của cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam, bị lấy mất tài sản nên phải bỏ ra đi. Vào lúc này, các Linh Mục miền Bắc cũng đã giục giã các con chiên di cư vào Nam.

Bên phe Cộng Sản luôn tìm cách phá hoại cuộc di cư của đồng bào. Những tờ bích chương và bươm bướm do Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến in và trao cho hai bên phổ biến cho dân chúng, biết về quyền tự do di tản thì không được chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (Cộng Sản) phân phát.  Hơn nữa chính Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến đã mở cuộc điều tra đơn khiếu nại của Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà về hành động "cưỡng bách di cư".  Trong số 25.000 người Uỷ Hội tiếp xúc, không có ai nhận là họ bị "cưỡng bách di cư" hay muốn trở về Bắc cả, như lời tố cáo láo của phe Cộng Sản.

Ngoài những người di cư vào Nam vì lý do tôn giáo (chiếm 2/3 tổng số), số còn lại là những người thuộc khuynh hướng chính trị chống Cộng Sản. Những người có liên hệ với chính quyền Pháp hay Chính Phủ Quốc Gia. Thành phần tư sản thành thị và những gia đình nông thôn lo ngại vì chính sách cải cách ruộng đất. Thêm vào đó là những người thuộc dân tộc thiểu số, đã từng theo quân đội Pháp chống Việt Minh. Trong đó có khoảng 45.000 người Nùng vùng Móng Cái và 2.000 người Thái và Mèo từ Sơn La và Điện Biên.

Vượt biển vào nam 1954

 

Tiến trình

Hàng loạt tàu há mồm (landing ship) đã đón người di cư rời miền Bắc. Ngày 9 tháng 8 năm 1954. Chính phủ Quốc gia Việt Nam của tân Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, lập Phủ Tổng Uỷ Di Cư Tỵ Nạn, ở cấp một Bộ trong Nội Các với ba Nha đại diện: một ở miền Bắc, một ở miền Trung và một ở miền Nam để xúc tiến định cư.

Thêm vào đó là Uỷ Ban Hỗ Trợ Định Cư, một tổ chức cứu trợ tư nhân giúp sức. Vì không có đủ phương tiện cho những người di cư vào Nam, nên chính quyền Pháp và Bảo Đại phải kêu gọi các nước khác giúp chuyên chở và định cư.  Các Chính Phủ Anh, Ba Lan, Tây Đức, Nam Hàn, Hoa Kỳ, Nhật, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Trung Hoa Dân quốc, Úc và Ý hưởng ứng cùng các tổ chức Unicef, Hồng Thập Tự, Catholic Relief Services (CRS), Church World Services (CWS), Mennonite Central Committee (MCC), International Rescue Committee (IRC), Care và Thanh Thương Hội Quốc tế.

Ngày 4 tháng 8 năm 1954, cầu hàng không được nối phi trường Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn trong Nam với các sân bay Gia Lâm, Bạch Mai, Hà Nội và Cát Bi, Hải Phòng ngoài Bắc được thiết lập.  Nỗ lực đó được coi là cầu không vận dài nhất thế giới lúc bấy giờ (khoảng 1200 km đường chim bay). Phi cảng Tân Sơn Nhứt trở nên đông nghẹt; tính trung bình mỗi 6 phút một là một máy bay hạ cánh và mỗi ngày có từ 2000 đến 4200 người di cư tới. Tổng kết là 4280 lượt hạ cánh, đưa vào 213.635 người.

Ngoài ra, một hình ảnh quen thuộc với người dân tỵ nạn là "tàu há mồm" (landing ship), đón người ở gần bờ rồi chuyển ra tàu lớn neo ngoài hải phận miền Bắc. Các tàu thủy vừa hạ xuống, hàng trăm người đã giành lên. Các tàu của Việt Nam, Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Trung Hoa, Ba Lan... giúp được 655.037 người "vô Nam". "Nam" được hiểu là cả dải duyên hải miền Nam Việt Nam, từ Đà Nẵng tới Vũng Tàu. Vì số người di cư quá đông, Cao Uỷ Pháp đã xin gia hạn thêm ba tháng và phía Hà Nội đã thoả thuận, nên ngày cuối cùng thay vì là ngày 19 tháng 5 được đổi thành ngày 19 tháng 8. Trong thời gian gia hạn, thêm 3.945 người đã vượt tuyến vào Nam.  Chuyến tàu thuỷ cuối cùng của cuộc di cư cập bến Sài Gòn vào ngày 16 tháng 8 năm 1955.

Thêm vào đó, còn tới 102.861 người tự tìm đường bộ hoặc ghe thuyền và phương tiện riêng. Tính đến giữa năm 1954 và 1956, khoảng trên 900.000 – 1.000.000 người đã di cư từ Bắc vào Nam, trong đó có khoảng 700.000 người Công Giáo, tức khoảng 2/3 số người Công Giáo ở miền Bắc đã bỏ vào Nam.

 

 

 Tàu Há Mồm (landing ship).

 

 

         Tất cả những thành công trong hai năm đầu của chế độ được xem như là kết quả của những nỗ lực, của một chính quyền tuy còn yếu kém về mặt quản trị, nhưng lại được một sự quyết tâm cộng tác của toàn dân. Tuy nhiên những nỗ lực này, tự nó và nếu chỉ riêng nó, cũng chưa đủ để hoàn thành việc củng cố miền Nam, nếu không có sự yểm trợ tối đa và vô điều kiện của Hoa Kỳ.  Mà đặc biệt là của ba người Mỹ đã từng liên hệ chặt chẽ với ông Diệm từ trước. Đó là Hồng Y Spellman, Giáo Sư Buttinger và một nhân vật cao cấp CIA, ba nhân vật (từ đầu) đã hoán cải được quan niệm của Tổng Thống Eisenhower, vốn đã muốn bỏ rơi Việt Nam.

 

 Tổng thống Ngô Đình Diệm và Hồng y Francis Spellman, hình dưới (trái) Giáo sư Joseph Buttinger và Đại tá Edward Lansdale.

 

Trong ba nhân vật đó thì Đại tá Lansdale đóng vai trò cố vấn trực tiếp bên cạnh Tổng thống Diệm. Ông ta nổi tiếng đến độ không một nhà viết sử nào, khi nói đến sự nghiệp của ông Diệm mà không nhắc đến thân thế và hoạt động của ông ta. Đại tá Lansdale đến Đông Dương từ năm 1954, làm cố vấn phản du kích cho quân đội viễn chinh Pháp.

 


Ngô Đình Châu

Nguồn: https://tranmuoisau.blogspot.com/2017/07/vo-nam-ngo-inh-chau.html