Vài nhận xét khái quát về lá số Tử-Vi của cô Nguyễn Trúc Linh, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1969 (ngày 11 tháng 8 năm Kỷ-Dậu), vào giờ Mão.

Vũ Công Lý, ngày 18 tháng 10, năm 2015

Sao chủ Mệnh: Văn-Khúc. Sao chủ Thân: THIÊN-ĐỒNG. Bổn mạng thuộc hành Thổ (Đại Dịch Thổ), Mệnh an ở cung Ngọ có Phá Quân, Đào Hoa, Hồng Loan, Lộc Tồn, Hỏa Tinh, nhị hợp với cung an Mệnh có Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Kỵ, Linh Tinh, trong tam hợp Mệnh còn có Hóa Quyền, Thiên Không, Địa Kiếp, Kiếp Sát v.v… nên là người được Trời phú cho những đặc tính như thông minh, cương nghị, quả cảm, nóng nảy, tự đắc, hiếu thắng, táo bạo, liều lĩnh, ưa hoạt động, có tài thao lược, có nhiều sáng kiến, đa nghi, biết dùng thủ đoạn, nhiều mưu cơ, có máu mạo hiểm. Nói tóm lại, là người tài giỏi, đảm đang, gan dạ, nhưng lại đa nghi, hay ghen tương, rất nhiều tự ái, chỉ ưa ngọt, không chấp nhận bị người khác lên mặt dạy dỗ, chỉ bảo mình. Khi bị chạm tự ái, bị xúc phạm thì dễ bốc nóng, trở nên gắt gỏng, đôi lúc không kiềm chế được hành vi, ngôn ngữ. Với phú bẩm này, nếu không sớm xa cách anh em, cha mẹ, thì cũng dễ xung khắc với chồng.

Mạng Thổ gặp phải Thổ-ngũ-cục nên người này cũng dễ hòa mình với đời sống bên ngoài. Dù với hoàn cảnh nào người này cũng có thể linh động, uyển chuyển để thích ứng với nghịch cảnh, mặc dầu nội tâm cảm thấy bực bội, bất mãn.

Đây là người có nhan sắc, có sức thủ hút, quyền rũ, vui vẻ, mau mắn, đa tình, có duyên. Cũng có khiếu về mỹ thuật, âm nhạc nhưng thường thiếu kiên nhẫn và hay bỏ dở công việc. Về hôn nhân, nếu trước khi lập gia đình mà không gặp vài trắc trở trong lãnh vực tình cảm, thì sau khi thành hôn, đời sống vợ chồng dễ rơi vào cảnh huống ‘đồng sàng dị mộng’, trái ý nghịch lòng, khắc khẩu, xung khắc về những quan niệm liên quan đến những khía cạnh cụ thể của đời sống.

Tuy nhiên nhờ ảnh hưởng xoa dịu của những sao như Phúc Đức, Thiên Đức, Lộc Tồn, nên cũng có tâm từ bi, biết chiều đãi nhân nhượng, tha thứ, sẵn sàng ra tay giúp đỡ những người sa chân lỡ bước hoặc ‘dưới cơ’ của mình.

Thân cư Thiên Di, có những sao như Liêm Trinh, Thiên Tướng, Phi Liêm, Thiên Khôi, Thiên Việt, Thiếu Âm, trong tam hợp còn có Thiên Riêu, Thiên Hình, Địa Không v.v… cho nên không thích ngồi yên một chỗ, thích xông xáo hoạt động, có nhiều tinh thần cầu tiến, không chấp nhận thua kém thiên hạ. Có tánh thiên vị, thích ai thì bênh cho bằng được, không thích thì bất cứ những gì liên quan đến kẻ đó, đều cho rằng ‘không tốt, không được’… Hành động theo bản năng, sở thích của mình, chứ không chịu lắng nghe ý kiến của thiên hạ, theo cung cách ‘chó sủa mặc chó, đường ta ta cứ đi’, sau này hậu quả ra sao cũng kệ. Nếu sai thì trong bụng mình biết là sai, ai mà dại dột lên tiếng cho rằng mình sai, thì nhất định cãi lại cho rằng mình đúng, chỉ vì quá nhiều tự ái, ‘cái tôi’ khá lớn !!!

Phụ nữ mà cung an Mệnh thuộc cách Sát Phá Tham, hội Hóa Quyền; cung an Thân thuộc cách Tử Phủ Vũ Tướng, Khôi Việt, đồng thời Mệnh & Thân hội đủ Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Không nên không thích làm dưới quyền người khác, thích làm chủ để được toàn quyền hành xử theo ý mình.

Cung Nô Bộc có Cự Môn, Tang Môn, Cô Thần, Quả Tú, Tả Phù, Hữu Bật v.v… nên trong những quan hệ với bạn bè, đồng nghiệp, nói chung với thiên hạ, thường bị lời ra tiếng vào, ‘nói xấu’ hoặc trách móc ngầm lẫn nhau, đôi khi lừa đảo, hãm hại nhau.

Cung Tật Ách có những sao như Phượng Các, Hỷ Thần, vì thế nếu không cẩn thận thì dễ mắc những chứng bệnh liên quan đến tai, đến hậu môn, đến hệ thống tiêu hóa.

Cung Tài-Bạch có Thất Sát, Địa Kiếp, thêm Thiên Không hội chiếu v.v… vì thế dễ được ‘hoạch phát’ về tài chánh, nhưng không được bền, và nếu phương cách kiếm tiền có tính cách táo bạo, mờ ám, đầu cơ thì sau này phá sản rất nhanh.

Cung Phu-Thê (diễn tả tổng quát về tình trạng gia đạo) có Vũ Khúc, Hóa Lộc, Thiên Hình, Phục Binh, Địa Không vì thế dễ gặp hình khắc trong hôn nhân, vì Vũ Khúc bản chất là một ‘tài tinh’, quản về tiền bạc, tài chánh, nhưng trong lãnh vực tình cảm lại là một ‘quả-tú tinh’, nói lên sự cô-đơn, khó san sẻ những tâm sự trong nội tâm.

Sao Thiên Hình (vết sẹo) đóng tại cung Phu Thê có ý nghĩa: hoặc là gặp trắc trở hôn nhân buổi đầu hoặc bị tổn thương trong quá trình xây dựng hạnh phúc gia đình.

Chu kỳ hiện tại (từ 45 tới 54 tuổi âm lịch) đi vào cung Quan-Lộc, có Tham Lang, Hóa Quyền, Thiên Không, Tướng Quân, hội thêm Địa Kiếp v.v… do đó nội tâm chuyển biến phức tạp, có khuynh hướng tỏ ra độc lập, tự chủ, càng ngày càng muốn bộc lộ mãnh mẽ ‘cái tôi’ của mình (Tướng Quân + Hóa Quyền = một nữ tướng cầm quyền sinh sát), không còn muốn tiếp tục giữ kín những tham vọng ấp ủ từ lâu trong lòng, mà muốn bộc lộ ra, muốn thực hiện mau chóng những dự định đã có từ lâu.

Chu kỳ này là chu kỳ “Thiên Không” (Ông-Trời biến mọi sự thành công), là chu kỳ đại-vận 10 năm đáng sợ nhất đối với tất cả những ai thâm cứu về Tử-Vi lý-số. Bao nhiêu vĩ-nhân, đại gia, chánh khách v.v… một khi gặp phải Thiên Không thì hầu hết (nếu không muốn nói là 100%) đều phải gặp lao đao, khốn khổ, sự nghiệp thăng trầm khủng khiếp, đôi lúc còn bị ‘mất mạng’… Gặp Thiên Không thì phải biết ‘nương tay hiểu phận’ vì bị mất yếu tố ‘thiên thời’, phải biết kiên nhẫn, ‘nín thở qua sông’. Càng vọng động, càng ‘wuậy’ thì càng bị sa lầy, dễ bị ‘mất trắng tay’…