Tràm Cà Mau
Ông Lê bại liệt ngồi tựa trong xe lăn, chỉ còn một tay cử động được. Với cánh tay này, ông đã làm được nhiều việc cho bà Hiên cảm thấy vui vui. Ông vuốt tóc, xoa lưng bà, và lâu lâu luồn tay vào áo lùng tìm hai trái mướp già nhăn nheo. Bà biết tính ông tinh nghịch, mặc cho ông làm chi thì làm, để ông vui mà bà cũng vui theo. Ông thường ngâm nga:
“Em là tiên nữ giáng trần,
Ban anh phước hạnh, ân cần lửa hương”
Bà đã nghe cả ngàn lần, mà vẫn chớp mắt, miệng cười sung sướng. Bà nghiêng người, hôn lên trán ông, rồi rút khăn giấy, âu yếm lau giòng nước dãi chảy dài trên mép chồng.
Hai ông bà ngồi cạnh nhau bên bàn, trước mặt có hai cái màn ảnh máy vi tính. Ông lùng tìm những bài viết hay, lạ và vui để gởi cho bạn bè xa gần. Hàng ngày ông liên lạc với bạn khắp năm châu bốn biển. Bàn luận đủ thứ chuyện, từ khoa học, đời sống, thiên nhiên, thơ văn. Ông khoái những chuyện lạ, chuyện vui khắp nơi trên thế giới. Ông gọi mạng lưới Google là “vị thầy thông thái”, nhờ đó mà ông tìm ra được tất cả những gì khúc mắc, rắc rối, khó khăn nhất, để học cách giải quyết.
Bà Hiên đọc sách, truyện, xem hình ảnh, theo dõi các đoạn phim ngắn vui, đọc thư bạn bè cũ mới. Những khi có tin tức gì hay, ông bà chia xẻ và cùng thưởng thức.
Mỗi sáng, khi nắng vàng chiếu qua song cửa, ông bà đã thức giấc, nhưng không dậy vội, cứ nằm ôm nhau truyền thân nhiệt ấm áp, thỉnh thoảng bà âu yếm hôn lên má ông. Ông nở nụ cười sung sướng. Hai ông bà bắt đầu trêu ghẹo nhau, nói những chuyện hài hước và cười hăng hắc. Sáng nào ông cũng hỏi: “Hôm nay mình ăn gì cho ngon em nhỉ?” Bà khi nào cũng có sẵn câu trả lời, vì bà đã tính toán từ trước. Mỗi ngày ba bữa, bà thay đổi món. Có những thứ đã mua và trữ sẵn trong tủ lạnh, chỉ cần đem ra chế biến rất mau là xong. Bữa ăn nào của ông bà cũng linh đình như có tiệc tùng. Mỗi bữa dọn ra bốn năm món khác nhau. Không học một khoá nấu nướng nào cả, mà bà Hiên cũng làm được những món rất cầu kỳ, ngon miệng. Khi muốn nấu một món lạ, bà lùng tìm trên mạng lưới, học cách nấu của ba bốn nơi khác nhau, tổng hợp và chế biến lại, bổ túc thêm ý kiến và bàn bạc của ông Lê, cho hợp với khẩu vị của hai người. Mỗi ngày bà nấu một món ngon đặc biệt. Khi thì bún bò, phở, hủ tiếu, bún riêu, bún mắm, cà ri, thịt bê chiên, sườn nướng, khi thì gà dai xé phay bóp rau răm, sườn trừu nướng than, tôm càng nướng, cá hấp, vân vân… Hầu như hơn cả tháng mới quay về món cũ. Bà cho biết, nấu ăn tại nhà ít tốn kém, mà ngon hơn tiệm, vì mình nấu để ăn, chứ không phải làm thương mãi. Từ ngày có bà Hiên, cái mặt ông Lê càng ngày càng sổ sữa tròn ra. Ông Lê bảo rằng cả thế giới thiếu thực phẩm, ngay cả những nước văn minh, thức ăn cũng đắt và hiếm quý, chỉ có Mỹ là rẻ và dư thừa, mình không tận dụng thì uổng lắm. Nhưng bạn bè ông, ít ai dám liều mạng ăn uống thả dàn như ông. Họ kiêng cữ đủ thứ vì sợ bệnh hoạn.
Khi đã trêu chọc nhau chán, bà Lê vói cầm hộp bấm, mở máy truyền hình nghe tin tức buổi sáng. Ông Lê nằm nghiêng mặt ra hướng màn máy, và kêu bà chuyển đài này qua đài kia. Mỗi khi ông Lê nói nhỏ: “Chim kêu em ạ” thì bà vùng dậy, đem cái bình tiểu loại dành cho người bệnh đến, kéo quần cho ông Lê, úp vào giữa chân, giúp ông thải nước thừa trong vị thế nằm nghiêng. Bà cầm khăn ướt lau chỗ tiểu, rồi đem bình đi đổ, súc rửa sạch sẽ. Sau khi rửa mặt, đánh răng xong, bà Hiên quàng dây đai qua thân ông Lê, rồi dùng cần cẩu đã gắn sẵn vào giường, chuyển ông dậy, đưa từ giường qua xe lăn. Bà đánh răng cho ông, và lau mặt ông bằng khăn ướt thấm nước ấm. Ông Lê khi nào cũng nói nho nhỏ: “Đã quá, sướng quá.” Bà Hiên nghe mà cười chúm chím.
Buổi sáng bà nấu cà phê áp suất pha với sữa đặc, làm hai ly. Đẩy cái bàn có bánh xe sát vào bên ông. Bà dọn ra hai tô, khi thì cháo, khi thì miến gà, khi thì hủ tiếu, toàn những món ăn có nước theo ý thích của ông Lê. Hai người ngồi đối diện, bà dùng muỗng đút cho ông Lê từng miếng, thỉnh thoảng lau miệng cho ông. Ông bà cùng nghe đài phát thanh bằng tiếng Việt qua máy vi tính. Nghe tin tức, hai ông bà bàn luận, phỏng đoán tình hình quốc tế, quốc nội. Ít khi ông bà tranh cãi nhau một vấn đề gì, bà biết ngưng câu chuyện khi hai bên có ý kiến trái nghịch nhau. Nói thêm không được gì, chỉ tổ khơi niềm xung khắc.
Từng đêm, bàn tay bà Hiên đan vào tay ông Lê, bà ôm ông ngủ. Có khi bà hát nho nhỏ như ru ông, những bài hát mà ngày xưa ông ưa thích và làm gợi nhớ lại kỷ niệm thời mới yêu nhau.
Ông lãnh tiền hưu, thua tiền già chừng vài đồng. Bà lãnh tiền già. Căn nhà đang ở, chính phủ phụ trả phần lớn tiền thuê, bà chỉ trả một phần ba lợi tức hàng tháng mà thôi. Với số tiền chừng đó thu vào đều đều hàng tháng, hai ông bà thấy sung sướng, an tâm, không phải lo lắng về tiền bạc, sinh kế. Họ thấy quá đủ, ăn tiêu dư giả, thong thả. Ông bà cũng có một ít tiền mặt để dành, phòng khi xe hư, khi khẩn cấp, hoặc mua một món đắt tiền. Ông bà quan niệm rằng, biết đủ thì đủ, biết dư thì dư. Với ai khác, thì đời sống thế là quá khổ, là túng thiếu, nhưng đối với ông bà thì không dám ước mong và đòi hỏi nhiều hơn, trời đất sẽ phạt. Có hạnh phúc, có sung sướng, mà không biết nắm bắt và cảm nhận, thì khổ ráng mà chịu.
Mỗi ngày, bà câu ông lên cái ghế ngồi đi cầu. Xong việc, bà lau chùi sạch sẽ cho ông, rồi đi đổ ống bô. Công việc nhanh, gọn. Bà không hề than van vì dơ dáy, hôi hám. Bà chăm sóc cho ông với cái tình bao la như mẹ dành cho con. Những khi ông bị táo bón, bà không ngại mang bao cao su, thọc tay vào hậu môn, giúp ông moi chất thừa thải ra. Những lúc nầy ông cảm động, gọi bà là nàng tiên giáng trần, và nói rằng, mẹ ông cũng chưa hy sinh và thương ông bằng bà.
Sức khỏe đã đến tình trạng nầy, thì ông Lê và bà Hiên không còn muốn kiêng cữ gì nữa, cứ ăn cho sướng miệng, rồi tới đâu thì tới. Nấu ăn là cái thú tiêu khiển của bà Hiên.
Chị em của bà Hiên thấy bà hy sinh cực khổ, họ phàn nàn, khuyên bà nên trả ông Lê về với viện dưỡng lão, để bà bớt mệt, đỡ khổ. Rồi bà có thể vào viện dưỡng lão hàng ngày thăm. Bà đáp lại rằng, chăm sóc cho ông là nguồn hạnh phúc riêng của bà. Mỗi ngày bà thấy tràn đầy niềm vui, tắm gội trong tình thương yêu, lòng bà phơi phới. Bà nói thêm, trong đám chị em, dù hoàn cảnh thuận lợi hơn, có chồng thương yêu, khỏe mạnh, con cái hiếu thảo, tài ba, nhưng chắc chắn không ai tìm được cái chân hạnh phúc mà bà đang có. Vì đây là tình yêu của bà.
Chưa có khi nào bà cảm thấy hạnh phúc hơn thời gian đang chung sống và chăm sóc ông Lê. Chính ông Lê đã đem niềm vui, lẽ sống đích thực cho bà. Không yêu, thì không hiểu, không cảm nhận được hoàn toàn tâm trạng của người khác. Chị em của bà đều lắc đầu, nói bà ngu dại, điên khùng.
Ông Lê và bà Hiên giao ước với nhau rằng, chỉ nói với nhau lời tử tế, yêu thương, không nói điều gay gắt, khó nghe và thiếu tử tế. Chỉ kể cho nhau chuyện tốt đẹp, vui vẻ, không nhắc chuyện buồn, chuyện khổ đau, tai họa. Những bản nhạc buồn, dang dở, tình yêu khổ đau, họ cũng tránh né, không nghe. Để cho lòng được nhẹ nhàng, thư thái.
Những hôm không có chương trình gì hấp dẫn, ông bà đấu cờ tướng Tây Phương. Ông cờ chơi cao hơn bà một chút xíu, nhưng thường nhường bà, để hai bên có quân cân bằng, cho cuộc cờ thêm vui và gay cấn. Những khi này, bà ham chơi cờ, quên cả việc nấu nướng. Cho đến khi quá muộn cho bữa ăn, bà lục tủ lạnh, lấy thịt bò, heo, gân đã nấu sẵn, đổ vào nồi một lon nước xúp gà, thả bún khô vào. Làm được hai tô bún bò Huế ăn tạm với rau luộc, dưa chua sẵn trong chai lọ. Ông Lê khen: “Cứ ngon như thường, còn ngon hơn tiệm nấu”.
Quanh năm, hai ông bà náo nức theo dõi các trận thể thao trên truyền hình. Từ mùa banh bầu dục Mỹ, mùa bóng rổ, quần vợt, bóng chày vồ, bóng đá. Ông dạy cho bà biết luật chơi của từng môn một. Ban đầu, bà nể ông mà xem, nhưng dần dà về sau, bà cũng say mê, hồi hộp theo dõi từng trận đấu. Hai ông bà cùng thưởng lãm và bàn tán, đánh cá với nhau đội nào thắng, đội nào thua. Bà còn suy ra tại sao mà thua, và thắng nhờ yếu tố nào. Bà còn nhớ các cầu thủ nào bị loại khỏi đội nào và đi về đâu, và biết luôn cả những tài năng đặc biệt của từng người. Những cuộc tranh tài quần vợt nam nữ của các giải Anh Quốc, Pháp Quốc, Úc Châu, Mỹ Châu, được bà đón xem, không bỏ sót trận nào. Nhiều khi đang xem trận đấu, hai ông bà cùng kêu thét lên thật lớn, vì thấy một đường banh thần kỳ. Bà chịu khó đi thuê phim về cho ông xem. Hai người nằm bên nhau, có khi xem đến quá nửa đêm mới đi ngủ.
Những buổi chiều mùa hè thời tiết ấm áp, bà Hiên lái xe đưa ông Lê ra biển xem mặt trời lặn trên Thái Bình Dương. Ngồi xem mặt trời, rồi dọn thức ăn ra, bà đút cho ông ăn. Hứng gió biển lồng lộng và nghe tiếng sóng vỗ rì rào. Có khi bà ngâm thơ cho ông nghe, những bài thơ ông đã sáng tác trong quá khứ, mà bà đã học thuộc. Thỉnh thoảng, bà đưa ông vào các công viên, đẩy xe đi xem vườn cây nhiệt đới, ngắm hoa anh đào nở hồng trời. Đưa ông đến những bờ hồ xem chim chóc từng bầy xôn xao chen chúc kiếm ăn. Ngồi xem thiên hạ chơi thuyền buồm tí hon lái bằng máy tự động.
Bà Hiên tìm đủ cách để làm cho ông Lê vui, đưa ông đi dạo phố phường, xem sinh hoạt bên ngoài, ăn kem, uống cà-phê bên hè phố nhìn thiên hạ qua lại. Bà đem ông vào chợ xem hàng hoá, xem các sản phẩm mới. Có khi ông đòi đi chợ trời, bà đưa ông đi trong ngày chủ nhật, ông cũng mua vài ba món đồ, mà bà biết sẽ không bao giờ dùng đến, nhưng cũng mua cho ông vui. Báo đăng nơi nào có triển lãm hoa lan, bà Hiên vội vã đưa ông Lê đến thưởng lãm. Ông nhờ bà chụp hình, và tải xuống máy vi tính, để gởi cho bạn bè xem.
Mỗi lần đi ra ngoài, bà chuẩn bị cho ông thật chu đáo. Cho ông phóng uế trước. Rồi mặc tã cho ông, nối bình nhựa treo bên xe vào chỗ tiểu qua cái ống dài. Thế là yên tâm, khỏi lo. Ông có thể ăn uống thả dàn, hết lo việc tiêu tiểu khó khăn.
Thời còn niên thiếu, ông Lê ôm mộng lấp biển vá trời. Muốn làm cánh chim bằng tung gió bay khắp muôn phương cho phỉ chí “tang bồng hồ thỉ.” Ông đành đoạn dứt áo ra đi, bỏ lại người yêu đầu đời là bà Hiên, một thiếu nữ xinh đẹp hiền lành trong phố nhỏ. Tình của ông đối với bà Hiên cũng tha thiết, đậm đà, nhưng “tình muôn phương” thì còn nặng và quan trọng hơn.
Bà Hiên hỏi ông: “Tang bồng để làm chi?” Ông không trả lời được, mà chỉ nghe tiếng gọi mơ hồ, xao xuyến thúc dục ông lên đường. Ông nghĩ, nếu phải sống một cuộc đời bình thường phẳng lặng trong thành phố nhỏ nầy, thì thà chết ngay đi còn hơn.
Buổi chia tay cũng tràn đầy nước mắt và đau xót xé lòng hai mái đầu xanh. Bà Hiên tôn trọng cái ước vọng xa vời của người yêu. Bà nói: “Em sẽ chờ đợi anh mãi. Khi nào mỏi gối chồn chân anh quay về, chúng ta sum họp, dựng xây hạnh phúc gia đình.”
Ông Lê gạt ngang: “Không. Đừng chờ đợi. Đời con gái, chỉ có một thời xuân sắc, không để uổng phí. Biết đến bao giờ anh mới quay về! Đừng nên hứa hẹn chi cả. Trời đất mênh mông không bến không bờ, giang hồ vô định.”
Ông Lê ra đi mà lòng xao xuyến tiếc thương cùng mâu thuẫn ngổn ngang. Sau nầy, ông nghe được lời phê bình của anh chàng lấy bà Hiên, rằng: “Tên Lê ngu dại, bỏ hạnh phúc đích thực, chạy đi bắt cái bóng ảo mộng giang hồ.” Mấy chục năm sau, ông mới thấm thía lời nhận xét đó. Và chợt nhớ mấy câu trong truyện Kiều: “Nửa năm hương lửa đang nồng. Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương” Cái ông Từ Hải nầy cũng đang sống hạnh phúc sung sướng mà ngu dại bỏ vợ yêu ra đi tìm cái bóng hão huyền.
Cuộc đời ông Lê cũng chìm nổi trong vận nước của thời chiến chinh. Mỗi cá nhân, không ai tự chủ được cho vận mệnh của họ. Tuổi trẻ của ông, sóng gió thì nhiều, bình an chẳng được bao nhiêu. Kết cục, chẳng có chi đẹp đẽ như trong trí óc mơ mộng của ông lúc còn tuổi xanh. Khi miền Nam thua trận, ông Lê nằm trong tù, mới nhận chân ra cái hạnh phúc đích thực của con người trên thế gian là được sống đời an bình, tự do, không trắc trở sóng gió.
Chồng bà Hiên là một người thực tế, an phận thủ thường, chỉ biết vun đắp mái ấm gia đình. Bà Hiên sống trong hạnh phúc êm đềm với ông chồng nhà giáo và mấy đứa con ngoan. Làm người dân miền Nam thất trận, ít ai thoát qua được đại nạn của cơn hồng thủy từ miền Bắc cuốn ập vào. Gia đình bà cũng nát tan, hai đứa con lạc mất trong lần chạy loạn từ cao nguyên về. Chồng bà bị đạn pháo kích hấp hối nằm bên đường, ông thều thào bảo bà đi đi. Bà chỉ muốn ở lại để cùng chết với chồng. Sau khi chồng chết, không biết ai đã kéo bà đi và tiếp tục cuộc di tản về miền biển. Bà như kẻ mất hồn, bước đi như trong cơn mơ. Rồi bà quay ngược lại con đường chạy loạn để chôn chồng và tìm con. Đói, khát, khổ đau và mệt nhọc đã đốn gục bà, nằm mê man bên đường. Không biết ai đã cứu bà, và sau đó về sống lây lất tại Sài gòn, bữa đói bữa no trong xã hội bị đổi thay tận gốc. Sau hai năm, bà liên lạc được với bố mẹ đang ở Mỹ, họ đã may mắn chạy thoát kịp từ những ngày cuối cuộc chiến. Được viện trợ bằng quà cáp, thuốc Tây, đời sống vật chất của bà không còn là một mối bận tâm lớn trong xã hội cùng cực nghèo đói đó nữa. Nhiều năm sau, bà được bảo lãnh qua Mỹ đoàn tụ gia đình với bố mẹ.
Phần ông Lê, khi đi tù về thì không tìm ra tung tích của vợ con. Người thì bảo bà vợ ông đã đi về một vùng kinh tế mới nào đó, có người tin bà đã vượt biên ra ngoại quốc. Nhiều năm ông Lê lùng kiếm không ra manh mối. Ông đạp xích lô một thời gian, rồi thay tên đổi họ, giả làm dân đánh cá, sống trên chiếc thuyền của người quen tổ chức vượt biên. Bị bại lộ, ông ở tù thêm mấy năm nữa. Rồi cuối cùng cũng thoát qua được Hồng Kông và đến Mỹ. Ông đã từng về Alabama theo tàu đi đánh tôm, qua San Jose làm cho hãng điện tử, rồi lên tận Alaska làm cua mấy năm, lao động ngày đêm không ngơi nghỉ, để dành được một món tiền kha khá, đủ để trở về sang một tiệm bán rượu tại vùng phía nam San Francisco. Sống một mình, sẵn rượu ngon, uống tì tì suốt ngày đêm, và bị tai nạn trên xa lộ trong lúc còn say. Ông đã nằm mê man nửa năm tại viện phục hồi, rồi tỉnh dần. Nhưng nửa thân dưới và cánh tay phải bị bại liệt, ngồi xe lăn.
Bà Hiên đã tình cờ gặp ông Lê trong khi đi thăm người bà con đang ở trong viện. Nhận ra nhau trong ngỡ ngàng. Bà đưa ông về nhà, nối lại tình xưa dang dở. Bà tận tụy chăm sóc ông trong tình thương dịu dàng bao la, trong tình yêu dâng hiến. Ông Lê sung sướng đón nhận với lòng biết ơn. Ông ví bà như một tiên nữ giáng trần cứu độ và ban cho ông hạnh phúc tràn đầy trong đoạn cuối của một kiếp người gian truân.
Ông bà thường nói với nhau rằng, sống một giờ, gắng vui cho đủ sáu chục phút vui. Không bỏ phí thời gian ngắn ngủi còn lại trong tuổi già. Uổng lắm.
Ước mong cuối cùng của ông bà là được chết trong bình yên, tro cốt hoà lẫn chung nhau.