Thư ông Bằng Phong ĐVÂ gởi ông Cao Xuân Ánh về vấn đề Trần Kiều Ngọc

Parent Category: Thư Viện Category: Thuộc về lịch sử

[LGT:  Dưới bài này có "links" của nhiều bài vết cùng chủ đề]

---------- Forwarded message ----------
   From: AU DANG <This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.>
   Date: 2017-10-12 5:29 GMT-07:00
   Subject: HỒI ÂM
   To: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Chào ông Cao Xuân Ánh,

Trước hết, xin hỏi ông: "Ông mang họ Cao Xuân thì ông có thuộc dòng họ Cụ Cao Xuân Dục ở Nghệ An?". Nếu đúng thì ông với tôi có họ hàng với nhau. Bởi vì ông Nội tôi là con rể Cụ Cao Xuân Dục. Nghĩa là chúng ta có bà con, họ hàng.

Nước mắt trẻ thơ

Nước mắt trẻ thơ (Hình minh họa: Getty Images)

Mỹ Châu Phạm

Mike tám tuổi, nhỏ con, nhanh nhảu, chạy nhiều hơn đi, lúc nào cũng toét miệng ra cười, ngay cả khi cái đầu u một cục sau những va chạm ngày nào cũng xảy ra: hôm thì va đầu vào tường, hôm thì vào cột cờ, hôm lại vấp chân vấp cẳng rồi va đầu vào bạn khác, xui xui hơn thì đang đi lơn tơn cũng bị trái banh từ đâu bay đến đập trúng đầu. Cái đầu nhỏ xíu chờm bơm cứ hết nổi cục u này đến cục u nọ. Gặp Mike chạy te te lên văn phòng là tôi lấy sẵn túi đá lạnh đứng chờ để chườm lên chỗ đau cho thằng nhỏ.

Thư ông Bằng Phong Đặng Văn Âu gởi bà Luật Sư Trần Kiều Ngọc

Parent Category: Thư Viện Category: Thuộc về lịch sử

THƯ NGỎ KÍNH GỬI:

BÀ LUẬT SƯ TRẦN KIỀU NGỌC

BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU

Thành phố Westminster, Quận Cam, Thủ đô Người Việt Tị Nạn Cộng Sản,

Ngày 10 Tháng 10 năm 2017,

Kính thưa Bà Luật sư Trần Kiều Ngọc,

VÀNG RƠI KHÔNG TIẾC - Đào Vũ Anh Hùng (1988)

Parent Category: Thư Viện Category: Truyện Ngắn, Thơ

Đào Vũ Anh Hùng, 1988

 

Tên thật: ĐÀO BÁ HÙNG / Viết văn từ năm 1960 Gia nhập làng báo năm 1964. Đầu tiên cộng tác với tờ Ngày Nay của nhà văn Hiếu Chân. Viết thường xuyên cho cho các báo Sóng Thần, Hòa Bình, Kịch Ảnh, Truyện Hay Thứ Tư và Lý Tưởng Không Quân. Biên tập viên, phóng viên các báo Tương Lai, Tiền Tuyến, Thân Dân, Tranh Đấu, Bến Nghé, Sống và tuần báo Đời. Tại hải ngoại, cộng tác với nhiều báo và tạp chí ở Hoa kỳ và Âu châu. Quản trị và điều hành ĐPT Tiếng Nói Việt Nam tại Dallas, TX. (1983 - 1985). Chủ biên Đặc san Đường Mây và Lý Tưởng Không Quân (1990-2000). Hiện cư ngụ tại Dallas, Texas, Hoa Kỳ - Admin chú thích theo trang http://www.ninh-hoa.com/

“… Tôi lấy anh coi hai lá thư vừa nhận được. Một từ anh bạn cùng đơn vị ngày xưa trên đường về khu chiến ghé Tokyo viết vài lời thăm và từ giã. Ngạc nhiên và xúc động biết bao nhiêu – Người bạn đã cùng tôi chiến đấu dưới cờ Quân Lực, cùng tôi sống chết trong một con tàu giữa mây cao gió lộng trên vùng trời đỏ lửa quê hương, lang bạt khắp nẻo đường đất nước. Người bạn mà tôi nghĩ chỉ biết có “sì già đầm bồi” cùng những nàng kiều nữ!… Ngờ đâu anh đã trở về và trên bước phản hồi cố quốc còn nghĩ nhớ đến tôi mà viết cho tôi lá thư đầu tiên từ mười mấy năm quen biết. Thư anh cuối đoạn có lời chào và ghi dòng chữ “Mai này chúng ta cùng về Việt Nam”. Lòng tôi choáng ngợp niềm hãnhh diện. Tôi không có địa chỉ hồi âm. Tôi muốn viết cảm ơn anh. Tôi muốn nhờ anh chuyển đến các anh chị em chiến sĩ lời thăm chúc, một câu thâm tạ ngô nghê tầm thường của ngôn ngữ loài người. Nhưng thôi, tôi đợi…” - (Giữ Lửa – Đất Mới, tháng 9, 1982)

Thư đó, không bao giờ được viết và gửi đi như tôi bồi hồi tưởng sẽ có ngày. Giấc mơ kháng chiến công thành, “về ôm lấy đất, hôn mê mẩn đất” đã vỡ tan, nát vụn, làm tim chân thật của tôi cùng tim chân thật của biết bao người đớn đau vô kể. Thật thương cho vận nước, tội nghiệp dân tôi…

Bạn xưa,

Từ cái ngày ô nhục phơi bày phản phúc, tỏ lộ rõ ràng cái thủy chung đạo nghĩa lọc lừa của tình chiến hữu đấu tranh, bạn xé bỏ lương tâm đem mảnh linh hồn bán cho Vu Hích, tôi bàng hoàng và đau nhói. Không giận, mà đau. Vì tôi hiểu bạn và vẫn thương mến bạn qua hình ảnh người Phi công lẫm liệt ngày xưa, ngày chúng ta còn khoác chung màu áo, nắm tay nhau vào chốn đường mây sinh tử. Không Quân chúng ta tình thì vẫn nặng, không phải thứ “Tình Bọ Ngựa”, đang hoan hỉ cùng nhau bỗng dưng trở mặt vung dao tiện đứt đầu bằng hữu. Nên tôi đau đớn thấy bạn nỡ bỏ anh em, nỡ bỏ bạn bè, bỏ rơi liêm sỉ, vẽ mặt bôi râu cho người đẩy lên cái rạp phường chèo đóng vai gã hề câm mang chức sắc triều đình Vu Hích làm trò riễu dở…

Bạn được người ban chức lớn, đầu năm có lá thư xuân gửi đồng bào chiến hữu, hô hào yểm trợ, phi lộ bằng câu tự giới thiệu mình vừa từ chiến khu quốc nội trở ra nhận công tác mới… Tôi đã không giữ được trang nghiêm khi đọc lá thư chúc Tết của ông tân Tổng Vụ. Tôi rất muốn tin quả thực bạn vừa trở ra từ khu chiến và rằng quả thực chính tay bạn viết lá thư thân mến gửi đồng bào bằng giọng văn lãnh tụ. Tôi rất muốn sống lại cái giây phút bồi hồi rung động của lần trông thấy hình ảnh bạn trong cuốn phim ngày Cương Lĩnh: Bạn đi dép râu, đội nón tai bèo, khăn rằn quanh cổ chống gậy vào rừng đi làm kháng chiến. Ngày đó tôi dậy lòng ngưỡng mộ và rưng rưng yêu mến bạn đã cho tôi niềm tin cùng nỗi chan hoà danh diện. Nhưng bây giờ nghĩ nhớ về bạn cùng cái tên Nguyễn Kim vừa đủ lạ, tôi thấy mình đắng cay thương tổn và xấu hổ như chính tôi gian dối. Bạn béo trắng, vẽ râu trên mép, bảnh bao xuất hiện giữa chốn quan chiêm, ngồi đứng đều khoanh tay nghiêm túc khiến tôi không nhịn nổi cơn cười, nhớ lại ngày xưa bạn hay dùng chữ “giả dạng bần tăng” để chỉ những tên bộ vó hiền lành nhưng gian và dối…

Chuyện gian dối đời không hiếm thiếu. Nhưng tôi thực khó khăn chấp nhận những dối gian lừa đảo đến từ người mình yêu mến và dốc lòng tin cậy. Dối gian này lại quá lớn lao. Nên chi nhìn ảnh bạn phương phi nhân dáng trên tờ Kháng Chiến và đọc lá thư Xuân, tôi như có con trùng tanh nhớt bò trong cuống họng. Tôi phải tin rằng thật tất cả những điều Phượng nói cùng tôi từ bấy lâu nay về bạn mà tôi bao giờ cũng tìm lời khoả lấp để dối lòng đừng xao xuyến niềm tin. Những lúc đinh ninh bạn đang lội suối trèo non, gian khổ trên đường kháng chiến, thì hỡi ơi bạn lại thong dong thả bước hào hoa trong rực rỡ đèn màu, vẫn lại “sì già đầm bồi” cùng những nàng kiều nữ! Tôi biết nói sao để lòng khỏi ngượng vì lỡ tuyên dương bằng hữu với người vợ trẻ? Người vợ đã làm tôi cảm kích biết ơn, nhớ ghi mãi mãi lời nói của nàng khi đọc lá thư bạn gửi, “Em biết tính anh, những gì thích muốn là làm cho bằng được nên em không bao giờ dám cản ngăn, chỉ thầm lén khóc. Em thực tình không muốn anh dốc đổ quá nhiều thì giờ và tim óc cho những việc chỉ mang thêm phiền bực. Họ bội bạc với anh, vô ơn, đố kỵ, những con người phản phúc… Thế nhưng Việc-Kháng-Chiến, anh không làm em cũng bắt anh phải làm!” Ôi thật tội thương người vợ trẻ. Tội thương người vợ lính đã chia xẻ cùng chồng cả một quãng đời khăn khó, đã trải qua những truân chuyên hạnh phúc với tôi và biết thương yêu, biết cảm thông đời lính, biết góp hy sinh cho đời chiến sĩ của chồng, biết khổ đau và tức giận trước nỗi điêu linh tang tóc của quê hương mình bất hạnh. Người vợ nhu mì thánh thiện từ tấm bé sống trong êm ái tình thương của gia đình, nhởn nhơ hoa bướm thanh xuân với bạn bè, sách vở cho đến ngày biết yêu tôi, biết làm vợ, làm mẹ… có bao giờ thấy biết rõ ràng mức độ hãi hùng bi thảm của chiến tranh, nhìn được tỏ tường mặt ngang mũi dọc một thằng Việt cộng? Thế mà cuộc xảy đàn tan nghé 75 đã khiến vợ tôi biết đau hận, căm thù, biết khuyến nghị chồng góp công cho đại nghĩa.

Vợ tôi đã tin yêu thành khẩn, đóng góp kiên trì và thành khẩn. Cả những đứa con cũng được mẹ dạy phải góp tiền yểm trợ, phải tiếp tay giúp bố làm công tác để có ngày về thăm ông bà, nội, ngoại… Phần tôi, lá thư bạn gửi đã cho tôi chan hoà rung động. Tôi hình dung ra toàn vẹn hình ảnh bạn tếu vui linh hoạt ngày xưa chúng ta còn ở Phi đoàn. Những ngày đi biệt đội, nằm chờ phi vụ tản thương đêm ở Pleiku, ở Ban Mê Thuột, hay ở Kontum trong ngôi biệt điện bên bờ sông Dak-Bla ồn ào quấy nhộn với quân bài xập xám… Xa hơn nữa, những ngày nắng bụi mưa dầm hành quân ở Tam Quan, Bồng Sơn của 1966, 1967 – đêm về ăn nhậu rong chơi ở Quy Nhơn – tôi còn là gã hoa tiêu mới ngỡ ngàng về nước, ngồi ghế copil cho bạn, rông dài khắp ngả đường mây. Tôi đã làm hoa tiêu phó cho thầy Hườn một thời gian dài đáng kể trong tổng số giờ bay trên chiếc H-34 kềnh càng của Phi đoàn 215 Thần Tượng. Chúng ta đã có cùng nhau bao nhiêu kỷ niệm, chia xẻ cùng nhau nhiều nỗi sướng vui cũng như hoạn nạn, những lần chới với bên bờ sống chết, cạnh vực hiểm nguy… Nên tôi đã bằng vào tình nghĩa ấy để đặt tin yêu nơi bạn, không so đo, không nghi ngại, cho mình bổn phận phải tự giác đứng lên, vội vàng tìm đến, dơ cao tay xin nhập cuộc.

Tôi nhập cuộc không đợi ai mời gọi. Lòng hớn hở mừng vì bạn và tôi lại chung hàng ngũ cho tôi hối chuộc tội mình quá nặng đối với quê hương, tẩy rửa niềm xấu hổ vì không ở lại để chết cùng vận số hẩm hiu đất nước. Kiểm điểm phần đóng góp cho Mặt trận, Phong trào từ những ngày đầu chưa mặc áo đoàn viên, tôi phải giật mình kinh ngạc vì những thành toàn và những hăng say tích cực, đa năng, mẫn cán đổ ra không tiếc, không dè xẻn nguồn năng lực cùng khối nhiệt tình dành cho kháng chiến. Tôi chau chuốt niềm tin vững mạnh nơi mình và say sưa truyền giảng cho người như kẻ thừa sai làm việc vinh danh Chúa. Tôi đã đi những bước rất tự tin, cố dọn mình cao cả, khoan dung nhìn những sai lầm, khuyết điểm, những vụng về, lơi lỏng là tất nhiên phải có nơi một tổ chức mới hình thành nhưng lớn mạnh quá mau, lãnh đạo chưa tôi luyện, thời gian cần đủ lượng để đi đến kiện toàn. Dầu gì thì ngọn lửa cũng đã được đốt lên, phải giữ cho đỏ ngọn. Gió to góp lại sẽ thành bão tố, bột đem quấy mãi cũng thành hồ, trăm cây chụm lại…

Lòng tôi tin như thế và mong như thế. Nhưng cái tin mong thành khẩn dù lớn mạnh bao nhiêu cũng không đủ lực mù quáng trái tim tôi và khoan lượng rộng rãi đến ngần nào cũng không dung được những điều dối gạt với manh tâm quá độ. Không phải mãi đến sau ngày tan vỡ tôi mới nhận ra hay nhìn thấy những điều gian dối, những âm mưu… Cuốn phim trình chiếu Ngày Cương Lĩnh. Cái gọi là Chiến Khu Quốc Nội. Đài Phát Thanh Việt Nam Kháng Chiến. Con số Mười Ngàn Quân. Những Bản Tin bịa đặt vụng về, ấu trĩ… Tôi bảo lòng, thôi thì trong bước khởi đầu và lòng người đang bừng bừng sôi nổi, sẽ lấp trùm tất cả những hớ hênh non kém. Rồi ra công sức chung vào, mỗi người một tay bồi đắp, nước lã phải vã nên hồ, từ không sẽ thành ra có. Thế nhưng từ buổi đại hội dựng cờ Chính Nghĩa, tôi nhận ra không phải như lời ông Liễu, ông Chức lúc nào cũng nồng nàn xưng tụng cùng tôi về một Hoàng Cơ Minh, con người cách mạng xứng vai lãnh tụ. Tôi đã tổn thương, thấm thía tất cả nỗi bẽ bàng ngượng thẹn của một tay buôn không biết chính mình có món hàng xấu giả, đem hí hửng chào mời, bị khách mua sành sỏi ném phăng xuống đất, chỉ tay vào mặt. Làm sao diễn tả nổi cảm giác đắng tê nhột nhạt trong tôi, khi Ross lạnh lùng từ chối không tiếp ông Chủ tịch Mặt trận dự định về Dallas, nhờ tôi thu xếp cho gặp nhà tỉ phú, “xin một lời tư nghị về Kháng chiến Việt nam”. Ross Perot, cựu sĩ quan Hải quân Hoa kỳ, nhân vật tạo huyền sử của sáng lập ra EDS – nơi tôi làm việc – của vụ giải cứu con tin ở Iran, của “On Wings of Eagles”. Người đã bỏ tiền tài trợ cho cuộc đổ bộ trại tù Sơn Tây, cố vấn tối cao về an ninh quốc phòng và cũng là Phụ tá Đặc biệt của Tổng Thống Reagan về vấn đề MIA-POW tại Đông dương. Người đầy đủ thẩm quyền để biết rõ ràng và biết tất cả về Mặt trận Kháng chiến của Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh, “hơn cả ông Minh biết nữa…!”

Bạn xưa,

Tôi đã hiểu thêm ra, trong trọn một buổi sáng đến mãi xế chiều ngồi nghe tâm sự anh bạn trẻ nơi quán cà phê khu chợ Maubert dưới trời đẹp Paris một ngày hiếm hoi nắng ấm. Để cũng rưng rưng đôi dòng nước mắt cảm thông, chia xẻ cùng người chiến hữu nỗi mênh mang thống hận của khối tâm thành hiến dâng lầm lẫn. Tôi đã cùng anh cạn chén cà phê như chia nhau uống lượng bồ hòn. Lòng tôi dào dạt cảm thương anh và yêu và quý phục người cán bộ đấu tranh sáng ngời phẩm chất cùng tác phong cách mạng. Anh cũng đã như tôi – trong một cần thiết và giới hạn nào đó – đồng tình chấp nhận những tô vẽ, những giả tạo, dấu che hay thủ đoạn… Thế nhưng bao sự kiện phơi bày khiến tôi tung toé trong lòng hàng trăm câu hỏi, hàng ngàn nghi vấn, không cần vận dụng đến khả năng suy luận cũng tìm thấy những trả lời làm tôi chao đảo.

Những câu hỏi “Tại sao…?” Tại sao Hải quân Trung tá Nguyễn Hữu Trọng đã không cùng “phái đoàn quốc nội” trở lại chiến khu mà dứt bỏ ông Minh ngay sau ngày đại hội vinh quang để về Thụy sĩ? Tại sao làm nổi chuyện thiên nan, đưa người hải ngoại về lập ra khu chiến, lực lượng to lớn tới mười ngàn, mà phải nhờ – mà tôi từ khước – lấy đem về tiền yểm trợ đồng bào Âu châu đóng góp, chỉ vì một lý do “Pháp không cho chuyển tiền vàng ra ngoại quốc!” Những người con cháu nào của họ Hoàng Cơ nắn giữ khối tiền đồng bào dành cho kháng chiến từ bao năm qua, phần riêng cháu giữ, không gửi về ông cậu? Tại sao cả một toa xe chất đầy quà tặng gồm thuốc tây trị giá của đồng bào bên Ý gửi kháng chiến quân, trực tiếp qua Bangkok bị trả về bởi không ai tiếp nhận? Tại sao Vụ trưởng Vụ Tiền lại dựng lên K-9 nắm quá nhiều quyền, vượt trên Tổng vụ? Lý do nào ông Hoàng Cơ Định cố tình quanh quẩn dựng lên lớp rào trở ngại để thoái thác đưa người tình nguyện về chiến đấu dù họ đã bằng lòng điều kiện phải xuất tiền tự túc? “Tiền bạc đồng bào đóng góp bên này chúng ta nhìn thấy quả nhiều nhưng đối với nhu cầu trong nội địa chỉ như muối đem bỏ biển. Dấn thân này đáng quý nhưng bây giờ Mặt trận chua cần thiết một người với khả năng như vậy. Về, chỉ thêm gánh nặng cho anh em.” Tôi chưng hửng và nhanh chóng hiểu ngay. Hiểu thêm một sự cười ra nước mắt, rằng ông Vụ trưởng xuất thân từ trưởng giả, học trường tây, đến tuổi được cho xuất ngoại tìm bằng cấp về ngồi cao trong bóng mát, chưa hề có lấy một ngày khoác ba lô súng đạn, mang đôi giày lính đi vào nơi rừng bụi sình lầy, sống lấy một ngày trong binh lửa quê hương… Thì làm sao rõ được giá trị hiếm hoi của người lính bộ binh thám báo có trêm mười năm quân vụ? Bảo sao không đặt bày ra thứ Bản Tin như “Bản Tin Quốc Nội” ca ngợi công lao phá địch của chị cầm đầu tổ phụ nữ và thiếu nhi kháng chiến tại một làng ghi rõ địa danh thuộc tỉnh Tuy Hòa có chồng Thiếu tá đang trong tù cải tạo. Thân danh ông Thiếu tá ở một làng quê, nếu sự này có thật, thì quả tình giá trị bản tin là lời chỉ điểm cho Việt cộng bắt người vợ đi tù không lầm lẫn!

Tôi phập phồng chờ đợi… Nhưng có bao giờ ngờ được và đợi chờ giây phút ngẩn ngơ chết lặng trước cơn đá nát vàng tan của cuộc biểu dương thô bạo Tình-Nghĩa-Lý-Thông và hoảng kinh chứng kiến gã lang băm học làm thầy thuốc cầm con dao cùn, bẩn, nhiễm trùng, vụng về cắt bỏ cái gọi là ung nhọt trên phần yếu nhược của Đứa Con Kháng Chiến! Đứa con chung cưng quý của bao người chắt chiu kỳ vọng đã trở thành hoại thể vì thứ lang chết tiệt, thủy chung nhân nghĩa tài năng đều nhẹ hẩng nhưng túi tham thì quá nặng.

Đọc truyện xưa nói đến những cơn tức uất thổ ra từng ngụm máu rồi thét lên chết ngất, tôi cho người kể chỉ đặt bày. Nhưng tôi, chính tôi đã quặn cơn đau của tội-lỗi-người-làm-mà-ta-phải-chịu. Đã sôi hừng hực từng cơn bi phẫn bốc tận đỉnh đầu, mồ hôi vã đổ, run rẩy và nghe được từng cơn lại từng cơn nhộn nhạo nong nóng chảy râm ran trong bụng. Tôi đã đổ ra từng lượng máu trong bao tử và giật mình kinh sợ. Tôi nhủ lòng mình, tôi hãy quên tất cả, hãy coi như bất hạnh này là điều may mắn vì xảy ra quá sớm và tham vọng xấu xa kia dầu sao cũng đã lộ bày cho người người rõ mặt. Vợ tôi đã ứa ra những giọt nước mắt hiền lành thương tủi và thở dài nhẫn nhịn khi nghe tin đổ vỡ. Nàng quá đỗi thương tôi, chỉ buông câu hỏi sao anh nỡ dấu, không cho em biết sớm? Câu hỏi sẽ sàng nhưng tôi nghe váng động và từng lượng máu lại râm ran đổ tràn trong bao tử. Trời hỡi làm sao tôi nỡ xé tan hay vò nát nuột nà mảnh lụa niềm tin vợ tôi đã dệt bằng thứ tơ óng đẹp và vô cùng bền chắc của tấc lòng đôn hậu gửi trao cho kháng chiến? Tôi biết biện giải thế nào cùng tất cả những người đã tín cẩn mến thương tôi, góp phần không tiếc không dè dặt như tôi đã mến yêu tin cậy bạn, dơ tay xin nhập cuộc?

Tôi đã trải qua những giây phút bồi hồi, sướng vui phơi phới của kẻ đi reo rắc niềm tin và đón nhận niềm tin từ những tâm hồn chân phác biết yêu quý quê hương chung một cách. Tôi đã đi không biết mệt trên những đoạn đường gai góc để vén thu góp nhặt từng mảnh tin yêu chắp lại làm nên sức mạnh cho Mặt Trận và những đồng tiền cảm kích dưỡng nuôi hoa kháng chiến nở tươi trong vườn hồng dân tộc. Những đồng tiền, cả vòng vàng nhẫn cưới gửi trao cùng cầu mong tâm ước một mai kháng chiến công thành, quê hương giải phóng… Đây là những đồng tiền thẫm sũng mồ hôi khó nhọc của đời cầu thực tha phương. Tiền nhận từ bàn tay khô héo của bà mẹ già nua sống buồn phiền lạc lõng nơi đồng đất nước người muốn mau chóng trở về chết trong lòng đất quê nhà yêu dấu. Của em bé thơ ngây nhịn miếng cơm chim mong về hưởng lại tình thương nội ngoại. Của con mong gặp lại cha, vợ mong gặp lại chồng. Của những người sầu héo nhớ thương người, bạn bè mong cứu bạn bè tù tội trong gông cùm cộng sản… Những đồng tiền mồ hôi nước mắt đã mất oan khiên không ai đòi lại nhưng niềm tin tội nghiệp bị phỉnh lừa phải coi như nợ và nợ này phải trả. Nợ truyền tử lưu tôn, không trả đời này thì đời con, đời cháu. Ôi biết làm sao nói cho cùng cạn nỗi mênh mang thống hận của kẻ cầm vàng tiếc uổng công lao, nửa đường rơi mất?

Cầm vàng mà lội qua sông
Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng…

Biết bao người cũng như tôi đã mất? Mà chao ơi lại mất quá nhiều. Tôi đã mất bạn, và coi như mất, người lính Nhảy dù Lê Hồng của độ nào còn bôn ba khắp nẻo chiến trường đỏ lửa quê hương. Tôi vẫn hằng ôm giữ hình ảnh Trung tá Lê Hồng một buổi trưa nắng cháy trên bãi đậu phi trường Trảng Lớn mịt mù bụi đỏ. Người sĩ quan trong bộ hoa dù chiến trận, đeo giây ba chạc, lom khom trải tấm bản đồ trên mui chiếc Jeep, thuyết trình cho tư lệnh Lữ đoàn… Giờ này Lê Hồng đang ở nơi nào cùng vợ và con? Có bao giờ gặp lại ông Bùi Đức Lạc và những anh em Nhảy dù “đánh thuê cho Mỹ”? Sao ông Thi không nói? Sao ông Tuyển không nói Lê Hồng đang ở nơi đâu?

Bạn xưa,

Đã mấy năm qua tôi bưng tai nhắm mắt, cố giữ mình mù điếc nhưng vẫn kinh động bởi tiếng phèng la chập choẽ của đám người Vu-Hích-Kháng-Chiến làm cuộc rước đèn ồn ào và khó chịu. Đám rước của những ông đồng bà bóng với đầy đủ trống chiêng cờ quạt diễn ra dưới đường hầm tăm tối, mỗi người cầm một bó đuốc dơ trước mặt, mê muội bước đi, miệng không ngớt hò reo mừng rỡ đã trông thấy mặt trời chính nghĩa từ ánh lửa lù mù ngọn đuốc và cứ thế đi quanh quẩn quẩn quanh rồi lại quẩn quanh quanh quẩn trong cái đường hầm tăm tối. Tôi đã tình cờ được người nài ép phải xem cái gọi là “Thông điệp” của ông Chủ tịch “gửi anh em chiến hữu” kỳ đại hội năm kia ở Los, nội dung có hai điều chú ý: Thứ nhất, tuyên dương bốc thổi thành phần đoàn viên cán bộ gọi là thế hệ trẻ trung và mới. Thứ hai, đã nặng lời thoá mạ những ai không ủng hộ mình là “Dư Luận Vô Tư Cách”! Điều một làm tôi ghê sợ và điều hai, phẫn nộ. Con người có tham vọng làm lãnh tụ cả một mặt trận đấu tranh dựa vào quần chúng sao lại có thể buông ra lời hằn học thô lỗ ấy? Hạnh kiểm cùng nhân cách con người như thế làm sao đủ bản lãnh chế ngự được cơn xúc cảm của mình trước các vấn đề to lớn? Như tôi đã thấy, nhiều ngươi đã thấy mà ngán ngẩm trước một ông Hoàng Cơ Minh không đè nén nổi sướng vui nhảy múa trong lòng, ngơ ngáo đến thất thần trước nhiệt nồng đón tiếp, hoan hô, hào quang rực rỡ vây bủa lấy mình trong Đại hội Chính Nghĩa và đã mê sảng đưa ra con số “tào lao”. Con số của một đêm gần ba giờ sáng, cú điện thoại từ Paris dựng đầu tôi giậy, dặn đi dặn lại tôi rằng phải làm sao liên lạc nói cùng “anh Chín” liệu lời tuyên bố cho khỏi xảy ra sự “ông nói gà, bà nói vịt”, bởi vì “Bên này tôi lỡ trả lời báo chí rằng quân kháng chiến nằm trong nội địa lên tới mười ngàn!” Tôi gạt phăng đi, coi lời căn dặn chỉ là thứ chuyện tào lao từ tên bạn tào lao, luôn thích làm ra mình quan trọng. Nào tôi dám nghĩ ông Chủ tịch lại đem con số mười ngàn quân nhảm nhí ấy nghiêm trang tuyên bố trong đại hội!

Tôi thương tội những người yêu nước thành tâm cho đến giờ phút này vẫn còn hăm hở nhập bầy cùng đệ tử Tinh Tú phái, bước theo thầy mà chẳng rõ sẽ về đâu trên con đường tà khuất, bảo sao nghe vậy, đi ngược hướng đi dân tộc, kể cả bảo phải vui mừng nhảy múa trên nỗi đau thương tang tóc của toàn dân, coi Tháng Tư Đen bi thảm là ngày “Quốc Khánh” để ăn mừng và bày đặt đưa ra giải thưởng tặng Phan Nhật Nam đang hấp hối trong trại tù Việt cộng. Hãy nhìn bìa sau cuốn sách in cưỡng đoạt tác quyền để thấy ẩn ý rập khuôn trò tiểu xảo cộng sản đã trâng tráo bày ra trước mặt người dân Saigon ở lại. Dân Saigon đã thờ ơ trước những ngày lễ lạc của bạo quyền nhưng bảo nhau đổ xô ra đường phố trong những ngày lễ lớn thực của mình như Giáng Sinh, Nguyên Đán, hoa đăng tấp nập như thời vàng đã mất. Lũ gian manh đã lợi dụng dịp này để phô trương lường gạt người ngoài, đem biểu ngữ căng trên các đường phố tưng bừng náo nhiệt Saigon. Biểu ngữ “Mừng Kỷ Niệm Ngày Thành Lập Quân Đội Nhân Dân Anh Hùng” của chúng thực sự đã qua cả tháng trước trong sự lạnh nhạt của dân chúng miền Nam. Thành ra, nước Văn Lang không có ngày Tổ chết nhằm Tháng Tư Đen để bầy con hiếu thảo ăn mừng - và không có một ngày lịch sử nào khác nằm trong tháng Việt cộng tổ chức ăn mừng Đại Thắng Mùa Xuân - thì người ta cũng phải đẻ ra một ngày, như ngày Cá Tháng Tư chẳng hạn, để làm Ngày Quốc Khánh! Còn như cái phần thưởng cho Phan Nhật Nam đã khiến nhiều người nóng mặt, hãy làm ơn nói dùm Mười Cúc thả ngay người tù khí phách và cho đi đoàn tụ - để xem Nam phản ứng thế nào về cái giải thưởng mỉa mai dơ dáng đó?

Có một câu trong Cổ Ngữ, xem như gương soi tỏ dung nhan người lãnh tụ, “Tâm có chính thì hành vi mới khỏi tà khúc. Chưa có người nào hành vi phẩm hạnh không đoan chính mà họ có thể yêu nước được”! Những người anh em không muốn nhận chân sự thật, đã dối lòng chỉ vì tự ái, vì muốn tỏ bày rằng ta tranh đấu kiên trì, lập trường vững chãi, cao vợi tinh thần, hay đã trúng phải thứ sinh tử phù âm độc của Thiên Sơn Đồng Mỗ? - Những người được vồn vã tuyên dương, tán tụng là thành phần cán bộ trẻ trung có tinh thần cách mạng đấu tranh mới. Như Võ T., như Kh., như cô bé T. Nh., tuổi trẻ, nhiệt thành và giàu năng lực, tôi đã hết sức yêu vì bietá nhìn ra bổn phận, náo nức muốn dự phần bởi chưa từng đóng góp máu xương cho cuộc chiến đấu thảm sầu trên đất nước. Giờ đây những người em tôi thương mến và đã dắt dìu, coi tôi như kẻ lạ - hay nói cho rõ ràng, như họ đã được dạy cho định nghĩa rõ ràng - những người đã ly khai hay không theo hoặc chống đối “Mặt Trận”, đều là những Việt gian, phản động!… Ai đã rập khuôn đường lối luyện người của cộng sản, đem những mầm dân tộc tươi xanh đó đi nhuộm thành hung đỏ, nhét nhồi những giáo điều sắt máu để biến họ thành những con thiêu thân cuồng tín, một chiều, vô tình nghĩa, biết nói trơn tru những từ ngữ cách mạng, đấu tranh, hy sinh, yêu nước và học thuộc lòng cái châm ngôn “cứu cánh biện minh phương tiện” để hồn nhiên và hãnh diện trước tất cả những hành vi sai trái?

Họ đã được dạy phải tôn vinh lãnh tụ như viên ngọc trân quý của cách mạng, linh hồn của tổ chức, cần hết sức giữ gìn, “không thể hy sinh phí phạm và vô ích như những Nguyễn Thái Học, Phạm Hồng Thái, Võ Đại Tôn… làm vỡ đổ công trình cách mạng!” Đồng thời cũng học loanh quanh lý luận “Chủ tịch Hoàng Cơ Minh cũng chỉ là một nhân sự trong Mặt Trận. Cá nhân không đáng kể và có thể thay thế được. Nhưng lý tưởng cách mạng theo đuổi cuộc đấu tranh cứu nước mới là tối thượng, phải duy trì và quyết tâm đi tới…” Do đó tôi không lạ khi có đoàn viên nghe tin Hoàng Cơ Minh bị chết, đã nhảy dựng lên hậm hực. Và tôi cũng chẳng ngạc nhiên nếu mai kia cục diện Đông Duơng biến chuyển, Việt cộng bị áp lực phải thương thảo với thành phần kháng chiến Việt nam, sẽ chỉ nhìn nhận và đòi cho bằng được MTQGTNGPVN vào bàn hội nghị, có hay không có Hoàng Cơ Minh cũng chẳng phiền. Ngày đó tới, đoàn viên phải vô cùng hoan hỉ bởi Mặt trận mình được Việt cộng xem là chính thống, nhưng tôi thì khiếp sợ cho cái tương lai nhìn thấy hồn ma xưa - Mặt Trận Giải Phóng Việt Nam - đội mồ sống dậy!

Những người cán bộ trẻ, thành phần cách mạng tươi mới đó, như Võ T., đã được đài thọ vào tận chiến khu học tập, thấy mình quá đỗi trưởng thành, được dạy cho ăn nói, tập tành những tác phong cách mạng, thuộc lòng chủ trương và đường lối Mặt Trận vẽ tô ra, trở về làm việc toàn thời, được trả tiền công tác, được đi đó đi đây, họp hành, diễn thuyết, được đặt ngồi cao trên sân khấu cho mọi người vỗ tay, đề cao, tán tụng, hoan hô vinh dự… Đến ai kia cũng còn đắm đuối thứ men say mê mẩn ấy, thì “giai cấp trẻ” nào cưỡng nổi lòng không xao động trước những vinh quang to lớn đặt vào tay? Làm sao Võ T. dám khước từ như tôi đã giữ mình tỉnh táo khước từ những việc làm đồng loã, không bằng lòng can dự những mưu toan, những liên quan tiền bạc, kinh tài, những đẩy đưa ngon ngọt bằng bạc tiền và chức vụ khi còn trong K-9…?

Làm sao Võ T. dám đưa tay gỡ bỏ cái vòng hoa mỹ lệ tròng quanh cổ để thành tâm thú nhận về những cuốn băng Việt Nam Kháng Chiến sau này xuất xứ từ đâu? Tôi nghĩ bạn là người phải biết rõ hơn tôi về số phần non yểu của cái đài phát thanh thuê mượn ấy. Cái phương tiện có thì quý hoá, không thì cũng chẳng ai kỳ kèo đòi hỏi cho bằng được. Đồng bào chỉ cần thấy thực tâm, thấy cố sức làm và làm chuyện thật. Việc gì phải đôn đáo gọi tôi nhờ cậy làm dùm những cuộn băng kháng chiến, “Làm trọn mỗi kỳ từ A đến Z để anh em bên ấy chỉ việc cho vào máy phát. Anh em mình không ai có khả năng viết lách cùng kỹ thuật dựng một chương trình. Lại thêm vấn đề sinh tử là địch lùng tìm, anh em phải di chuyển luôn luôn, một ngày phát thanh được vài mươi phút cũng là một kỳ công đáng kể…” Tôi từ chối. Từ cái ngày nào xa lúc lắc, mà mãi tới bây giờ người ta vẫn rao lên, vẫn ăn mừng ngày thành lập được ba năm, rồi được năm năm đài Phát thanh Việt Nam Kháng Chiến, “phát thanh đều đặn và liên tục không một ngày ngưng nghỉ. Ngày phát 8 lần, mỗi lần một tiếng với bài viết dài 25 trang giấy” và đưa ra những con số gớm ghê chính xác tính ra bao nhiêu ngày, bao nhiêu giờ, bao nhiêu phút và bao nhiêu triệu chữ trên bao nhiêu dặm dài giấy viết! Tôi thực thà khâm phục những con người kháng chiến toàn năng đã làm nên những việc phi thường trong những điều kiện cực cùng vất vả và khăn khó. Còn tôi, phải thú thật rằng mặc dầu ở trên đất Mỹ dồi dào phương tiện, có khả năng, đã từng thực hiện những chương trình phát thanh tiếng Việt tại địa phương mỗi tuần lễ một lần, mỗi lần chỉ một giờ thôi, không một tên Việt cộng nào lùng bắt, thế mà cũng không sao giữ được cho Tiếng Nói Việt Nam phát thanh đều đặn và liên tục…

Bạn xưa ơi, tôi thật quả có mừng vì đã không ở lại nhận phần chia cháo lú trộn với đường ngon mật ngọt đưa lên miệng sì sụp khen ngon cùng đám người Vu-Hích (*). Tôi coi lời thoá mạ cái “dư luận vô tư cách” mà ông Hoàng Cơ Minh khinh mạn nhắm vào tuyệt đại đa số người Quốc gia đầy lòng độ lượng, như tiếng la rồ dại của kẻ cầm đầu đám rước quanh quẩn rồi lại quẩn quanh đi mãi dưới đường hầm tăm tối. Tôi hiểu được cái tâm trạng nao núng tuyệt vọng của một con người xa đồng loại, tự mình đánh mất tự do cao quý của mình, không dám thảnh thơi đi lại, thong dong hít thở khí trời trong mát, đã hoảng kinh kích thích khi nghe tiếng người cười nói bên ngoài mà mình không thấy lối ra nhập cuộc, điên cuồng thoá mạ để nghe chính tiếng mình cho được an tâm trước cái hoang vu rùng rợn của kẻ sợ ma đi lạc giữa vùng mộ địa.

Bạn xưa,

Bây giờ đã sắp mùa Xuân, lại thêm một Tết tủi buồn đời lưu lạc. Tôi ngồi chiêu niệm quê hương và buồn ủ dột nghĩ đến dặm đường thăm thẳm đưa ta về quê cũ. Tôi nhớ những ngày xưa. Nhớ anh em, người thân, bằng hữu. Nhớ những cánh chim ta đã họp đoàn. Những ngày óng ả Nha Trang bạn dắt dìu tôi bay tập… Tự nhiên tôi nhớ bạn lao đao cùng tất cả những gì mình có cùng nhau trên mảnh quê xưa mù mù khuất nẻo. Và tôi dạt dào ao ước một ngày ta gặp lại nhau trong tay bắt mặt mừng bằng tình cũ nghĩa xưa đẹp đẽ chắc còn đủ lượng cho ta đừng thấy ngỡ ngàng xem nhau như kẻ lạ. Tôi thiết tha nhớ và mong gặp bạn. Chúng ta sẽ ngồi đối diện nhau cho tôi được dịp nhìn sâu vào mắt bạn. Và bạn sẽ nói một lời đầm ấm nhưng là lời thầm lặng không phải nói cùng tôi. Mà nói với lương tâm bạn bằng lời trong trắng. Nói thật thà với các anh em mình chết cho đất nước. Như Vượng, như Sinh, như Cung, như Tích… Nói nghiêm trang cùng những bạn chúng mình đang tù ngục thảm thương vẫn hao mòn ngóng đợi anh em về giải phóng. Nói hết sức thành tâm cùng những linh hồn u uất của anh em đã trở về và chết hẩm hiu nơi đất nước người như cái chết của Phùng Tấn Hiệp, của Đại tá Tư. Nói một lời lương thiện với Ngô Chí Dũng, với Trần Thiện Khải, với những anh em bị bỏ rơi phũ phàng trên đất Thái.

Và nếu như tình nghĩa anh em, bạn bè, đồng đội không làm bạn quan hoài, thì bạn ơi hãy thì thầm mà nói lời riêng dốc cạn tình phu phụ cùng vợ và con yêu dấu đầy thương tội đã vùi thân nơi biển cả trên bước đường khổ nạn kiếm tìm chồng, tìm kiếm tự do. Bạn hãy thiết tha, thành khẩn, trang nghiêm như bạn đã thề nguyền cùng đất nước, với tất cả thiêng liêng trong sâu thẳm đáy lòng, rằng bạn thật tâm kháng chiến, bạn không biếi dối lừa và đồng loã dối lừa. Kháng chiến này có thực.

Đào Vũ Anh Hùng

(*): Vu-Hích: Bọn đồng cốt đàn ông và đàn bà thời cổ đại Trung hoa, dựa vào sự mê tín dị đoan của dân gian để gieo rắc những tà thuyết và tà thuật gây rối loạn, làm xáo trộn xã hội. Bọn này lộng hành khắp nơi, xúi dục tạo loạn. Sau triều đình phải dùng quan binh đánh dẹp mới yên lũ giặc.


Thư ông Bằng Phong Đặng Văn Âu gởi Nguyễn Thanh Tú con trai cố ký-giả Đạm Phong trước ngày họp báo “Việt Tân kết thúc tại Houston, 2-10-2017”

Thư Gửi Nhà Tranh Đấu Trẻ VN Ở Hải Ngoại - Bằng Phong Đặng Văn Âu (26/4/2017)

Giai Phẩm THẦN PHONG 1988 (PDF 22MB)  Có nói về Mặt Trận làm áp lực không cho đăng bài "Vàng Rơi Không Tiếc" và đặc san LÝ TƯỞNG của Không Quân phải đình bản.

Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, ANH LÀ AI? (27-12-2015)

Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa: “Mặt Trận là một chương đen tối của đời tôi" (4/11/2015)  

 

Thư ông Bằng Phong Đặng Văn Âu gởi cô Nancy Nguyễn về vấn đề Trần Kiều Ngọc

Parent Category: Thư Viện Category: Thuộc về lịch sử

Nhận qua email ngày 9-10-2017, tựa đề do SMCĐ đặt ra để phân biệt các lá thư trước.

NANCY NGUYỄN, HÌNH ẢNH CỦA KẺ LẠC ĐƯỜNG!

Cô Nancy Nguyễn,

Tôi chưa bao giờ chụp mũ cô là đảng viên Việt Tân. Vì đọc thư cô viết cho Bố Mẹ cô từ ​"Mặt Đường Dậy Sóng", tôi nhận thấy đây là cô con gái ở Hải ngoại có thể sánh với cô Phương Uyên ở Quốc Nội.

70 Năm Tưởng Niệm Khái Hưng

Parent Category: Thư Viện Category: Thuộc về lịch sử

Phạm Ngọc Lũy, 1996

 

khai hung 1

Khái Hưng tham gia Tự Lực Văn Đoàn do Nhất Linh thành lập từ 1932, với ba thành viên trụ cột là Nhất Linh, Khái Hưng và Hoàng Đạo. Qua tờ Phong Hóa (1933) và Ngày Nay (1936) họ đã làm một cuộc cách mạng về văn học, mở đầu lối viết văn giản dị truyền bá tư tưởng, khuyến khích sống lý tưởng, nghị lực, tham gia việc xã hội, phá bỏ những cổ tục lỗi thời, gây cao trào làm nhà “ánh sáng” để thoát nghèo, kêu gọi yêu nước, đòi hỏi nhân quyền.

“Little Sè Goòng”, tại sao không?

Category: Thư Viện

Lê Hữu

Câu chuyện bắt đầu từ một mẩu chuyện phiếm, tác giả nêu rõ sự gắn bó thân thiết của địa danh Sài Gòn (không phải cái tên “mới” sau năm 1975) với người dân miền Nam hiền hòa, chơn chất, dẫn chứng bằng mẩu đối thoại ngắn, đại khái:
Tài xế taxi hỏi:
- Thưa cô đi đâu?
- Saigon.
Cháu hỏi Bà:
- Ngoại đi đâu đó?
- Vô Saigon.
Bạn bè hỏi nhau:
- Mày đi đâu đây?
- Ra Saigon.
Đọc tới chỗ này, ông chủ báo nói với tôi:
- Người viết chỉ phịa ra thôi. Ngoài đời chẳng ai nói “Saigon” cái kiểu không có dấu tiếng Việt như thế cả.
Tôi thắc mắc:
- Vậy thì nói thế nào?
- Nói “Sài gòn”, chứ không nói “Saigon”. Phải là hai âm với hai cái dấu huyền. Khi hỏi “Ngoại đi đâu đó?” thì bà ngoại sẽ trả lời là “Tao dzô Sè goòng”, chứ không phải “Vô Saigon”.
Tất nhiên là tôi không thể nào đồng ý hơn, vì ông này vốn là dân Sài Gòn thứ thiệt, sống lang bạt ở Sài Gòn bao nhiêu năm mãi cho đến ngày thành phố này thay tên đổi chủ. Ông còn cho biết, mỗi khi đọc bài vở, ông cứ phải sửa đi sửa lại những chữ Saigon, Hanoi, Dalat… thành Sài Gòn, Hà Nội, Đà Lạt trước khi cho đăng báo. Ông giải thích:
- Cái tên Sài Gòn của người mình đã có hơn 300 năm, đến khi người Pháp đô hộ nước mình thì họ viết và gọi tên này theo lối của họ. Nay mình đã giành độc lập từ khuya rồi mà vẫn cứ “Saigon” thì vẫn còn đầu óc nô lệ.
“Hanoi” cũng thế, ông nói phải viết tách rời ra hai chữ “Hà Nội” và có dấu mũ, dấu huyền, dấu nặng tử tế, chứ không thể viết liền nhau và đọc lơ lớ địa danh này với âm “h câm” (h muet) theo kiểu Tây.
Liệu ông chủ báo này có khó tính lắm không? Liệu có bao nhiêu người cũng “dị ứng” như ông với lối viết mà ông gọi là “học lóm của Tây” ấy?
Tôi ngẫm nghĩ thấy ông nói cũng có lý. Vì sao khi nói thì rõ ràng là “Sài gòn”, “Hà nội”, “Đà lạt”… mà khi viết thì lại… “Saigon”, “Hanoi”, “Dalat”? Theo tôi có thể là, thoạt đầu một số người bắt chước lối viết của người nước ngoài (trong sách, báo, bản đồ…) cho có vẻ văn minh lịch sự kiểu… Tây, rồi sau đó nhiều người cũng viết theo như vậy. Dần dà thành ra thói quen, chứ cũng chẳng ai nghĩ ngợi gì xa xôi.
Chuyện ngược đời là, trong lúc chúng ta tìm cách Việt hóa tên các địa danh của nước ngoài (Hoa Thịnh Đốn, Mạc Tư Khoa, Nữu Ước, Luân Đôn, Bắc Kinh, Thượng Hải…) thì lại đi Tây hóa, Mỹ hóa tên các địa danh của… nước mình.
Liệu chúng ta có cần phải viết theo lối viết của người nước ngoài một cái tên riêng về địa lý, lịch sử của đất nước mình? Đâu đến nỗi như thế! Họ viết thế nào thì mặc họ chứ, chúng ta cứ viết đúng dạng chữ của “tiếng nước tôi”. Cách viết các tên riêng gồm hai chữ hoặc ba chữ dính liền nhau và không có dấu ấy chắc chắn không phải là cách viết tiếng Việt của người Việt. Không ai dạy chúng ta lối viết như thế cả, và chúng ta cũng không hề dạy cho các em nhỏ lối viết “tiếng Việt” như thế. 
Tiếng Việt là của người Việt, tốt hơn hết là nói sao thì viết vậy. Nói “Sài gòn” thì không việc gì phải viết “Saigon”; nói “Hà nội” thì cứ viết là “Hà Nội”; nói “Đà lạt” thì cứ viết là “Đà Lạt”, đâu phải viết “Dalat” thì Tây hơn và “sang” hơn.  Người Pháp, người Mỹ viết “Saigon” là vì họ không viết được tiếng Việt. Nếu anh chàng Tây hay Mỹ nào chịu khó học tiếng Việt, tôi tin là anh ta sẽ vui lắm khi được khen là viết đúng những cái tên Sài Gòn, Đà Lạt, và lấy làm tự hào rằng trình độ tiếng Việt của mình không thua kém gì người bản xứ.
Thế nhưng, viết như thế nào mới gọi là viết đúng chính tả những địa danh này của người Việt? Khổ nỗi là có những cách viết khác nhau, và đến nay hầu như vẫn chưa có được sự thống nhất cách viết nào gọi là “chuẩn”. Thử kể ra:
Sài gòn, Sài Gòn, Sàigòn, SàiGòn, Saigon, SaiGon, Sai Gon, có khi là Saïgon (chữ “i” có hai dấu chấm), chưa kể Sài-Gòn, Sài-gòn, Sai-gon (có gạch nối giữa hai chữ).
Trong số ấy, những cách viết phổ biến là: Sài Gòn, Sài gòn và Saigon, và những cách này cũng rất tùy nghi, ai thích viết kiểu nào thì viết. Người miền Nam, từ trước năm 1975, lắm lúc cũng tùy tiện, khi viết thế này khi viết thế khác. Một bài nhạc khá phổ biến về Sài Gòn của nhạc sĩ Y Vân có cái tựa là SAIGON, trong lúc một bài nhạc khác của nhạc sĩ Phạm Đình Chương có tựa là MƯA SÀIGÒN MƯA HÀNỘI. Có khi là Saigon mới, tên tờ nhật báo bán chạy nhất ở miền Nam một thời. Có khi làSaigon năm xưa  SàiGòn tạp pín lù, tên các tựa sách cùng một tác giả, cụ Vương Hồng Sển. Một tác phẩm của Tô Kiều Ngân có tựa ghi ngoài bìa sách là Mặc khách Sài Gòn
 

 

Riêng tôi vẫn chuộng cách viết thuần Việt là “Sài Gòn” hoặc “Sài gòn”. Viết “Sài Gòn” gợi cho tôi nhiều cảm xúc về thành phố đầy ắp kỷ niệm và là “thủ đô yêu dấu nước Nam tự do”, (*) hơn bất cứ cách viết nào khác không phải dạng chữ tiếng Việt. Cách viết này cũng thuận tiện cho con em chúng ta khi học Việt ngữ và khi phát âm bằng tiếng Việt hai chữ “Sài Gòn”. Nếu có thêm lý do nào nữa, từ nơi nào sâu thẳm trong tiềm thức tôi, hai tiếng ấy cứ vọng lên và cứ theo tôi, theo tôi mãi sau ngày tôi rời bỏ quê hương.
      “Vĩnh biệt Sài Gòn”, chứ không phải “Vĩnh biệt Saigon”.
      “Đêm vẫn chưa buông nhưng chiều dần tàn
      Mây tím giăng ngang trên trời Sài Gòn
        (“Bước chân chiều Chủ Nhật”, Đỗ Kim Bảng)
Những câu hát như đánh thức cả “một trời kỷ niệm” về một nơi chốn thân quen.
Sài Gòn trong những câu ca dao bên dưới không thể nào viết là “Saigon” được:
      - Đèn Sài Gòn ngọn xanh, ngọn đỏ
      Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu…
      - Trầu Sài Gòn xé ra nửa lá 
      Thuốc Gò Vấp hút đã một hơi…
      - Đất Sài Gòn nam thanh nữ tú
      Cột cờ Thủ Ngữ cao thiệt là cao… 
      - Muốn làm kiểng, lấy gái Sài Gòn 
      Muốn ăn mắm cái, lấy gái đen giòn Bạc Liêu
Và “Sài-gòn” trong bài Học Thuộc Lòng SÀI-GÒN của cụ Bảo Vân Bùi Văn Bảo:
      Sài-gòn có bến Chương-dương
      Có dinh Độc-lập, có đường Tự-do
      Phường Chợ-quán, khóm Cầu-kho
      Bến xe Lục-tỉnh, con đò Thủ-thiêm…
Đấy là nói về những cách viết, còn về cách đọc, cách nói (phát âm) thì “sài-gòn” vẫn là phổ biến nhất. Ngay cả khi viết “Saigon”, ta vẫn phát âm “sài-gòn”.
Trong các tự điển của nước ngoài như Anh, Pháp, từ ngữ “Saigon” hầu hết đều phiên âm là [saɪˈgɒn]. Các tự điển phát âm cũng đọc là “sài-gòn” (chứ không phải “sái-gân” sái khớp chi cả).
Người nước ngoài viết “Miss Saigon”, “The Fall of Saigon”, “The Last Day of Saigon”… nhưng khi nói thì vẫn “Việt hóa” theo lối phát âm của người Việt là “Miss sài-gòn”. (Tôi nhớ, từng được nghe không ít người Việt phát âm chữ “Paris” trong “Paris by Night” theo lối Mỹ hóa [ˈpærɪs] hay [ˈpærəs], cho có vẻ văn minh lịch sự kiểu… Mỹ).
Cách dùng chữ “Saigon” ở trong nước cũng khá tùy tiện, chẳng hạn đặt tên cho một thương hiệu thức uống là Bia Saigon (chữ trước, “bia”, thì Việt hóa; chữ sau, “Saigon”, thì lại Tây hóa).
Ngoài cách gọi thông thường “Sài Gòn”, ta còn gặp những cách viết, cách gọi ngồ ngộ, vui vui như “Sè Goòng”, “Sè Ghềnh”, “Thầy Gòn”… Sè Goòng là cách viết nhại theo lối phát âm của người Sài Gòn, cũng tựa như Hà Lội, nhại theo lối phát âm của người Hà Nội. Vài cách nói khá phổ biến:
- Em gái Sè Goòng, anh giai Hà Lội.
- Ô mai Hà Lội, xí muội Sè Goòng.
- Nói đâu xa, tui mới là dân Sè-Goòng chánh cống nè.
Dân Sài Gòn chánh hiệu “con nai dzàng” đời nào chịu thay tên đổi họ Sài Gòn bằng bất cứ tên nào khác:
- Gọi Sè Goòng từ hồi nảo hồi nào tới giờ, mắc mớ gì kêu là Thành phố Hồ Chấy Minh lạ hoắc lạ huơ. Hổng thích à nhen!
Tại California và các tiểu bang có đông người Mỹ gốc Việt sinh sống, người ta đọc thấy khá nhiều bảng tên có dòng chữ “Little Saigon”, từ “Welcome to Little Saigon” đến những tấm biển chỉ đường nơi các trục lộ giao thông, đến nhiều bảng hiệu lớn nhỏ trên đường phố và trong khu thương mại của người Việt. Hiếm thấy có bảng tên nào ghi là “Little Sài Gòn” hoặc tên Saigon có dấu tiếng Việt, hầu hết đều là “Little Saigon”.
Chúng ta viết “Little Saigon”, nhưng nói “Little Sài Gòn”, “Sài Gòn Nhỏ” hoặc “Tiểu Sài Gòn”. Thế thì vì sao không viết “Little Sài Gòn” luôn cho “tiện việc sổ sách”, nghĩa là thuận tiện cho cả nghe, nói, đọc, viết. Hãy để cho người nước ngoài có cơ hội làm quen và quen mắt với cái tên “Sài Gòn”, viết đúng theo lối viết của người Việt mình là viết rời hai chữ, với hai cái dấu huyền đặt trên hai nguyên âm “a” và “o”. 
Người Sài Gòn vốn quen lối sống phóng khoáng, thoải mái và giản dị. “Little Sài Gòn”, “Sè Goòng Nhỏ”, “Little Sè Goòng” đều là những cách viết, cách nói thoải mái, nghe gần gũi, thân thiết, mang đậm dấu ấn và phong cách Sài Gòn.
Viết “Little Sài Gòn”; nói “Little Sè Goòng”. Được quá đi chứ, sao không?
Lê Hữu

Lời bài hát: Ghé Bến Sài Gòn

Cùng nhau đi tới Saigon 
Cùng nhau đi tới Saigon 
Thủ đô yêu dấu nước Nam tự do 
Dừng chân trên bến Cộng Hòa 
Người Trung Nam Bắc một nhà 
Về đây chung sống hát khúc hoan ca 
Ngựa xe như nước rộn ràng 
Ngập muôn sức sống tiềm tàng 
Đèn đêm tung ánh sáng như hào quang 
Lòng vui chân bước dật dờ 
Đường đi quanh khúc Bàn Cờ 
Cùng nhau vui sống ấm say tình thơ 
DK: 
Người ơi Saigon chốn đây 
Là Ngọc Viễn Đông 
Vốn đã lừng danh 
Nắng lên muôn chim đùa hót 
Muôn hoa cười đón 
Vinh quang ngày mới 
Cùng nhau đi tới Saigon 
Là nơi du khách dập dồn 
Từ năm châu tới viếng thăm Thủ Đô 
Dòng sông chen chúc tàu đò 
Ngựa xe buôn bán hẹn hò 
Người dân no ấm sống đời tự do

Nhật Ký Anne Frank, Nhật Ký Ngọc Ánh (Những Nỗi Buồn Nhân Thế)

Trần Mộng Lâm, 05-10-2017

Cuốn nhật ký “Ngày Tháng Buồn Hiu” đến với tôi rất tình cờ. Một buổi sáng tôi đến chơi nhà người bạn, thấy cuốn sách mầu tím mới tinh nằm trên bàn, tôi lật cuốn sách ra coi trong khi chờ bạn sửa soạn ly cà phê buổi sáng. Đọc qua vài trang, tôi bị cuốn nhật ký thu hút đến nỗi nhất định phải mượn về nhà tuy người bạn cũng chưa có dịp đọc. Và tôi đã tìm được những gì mà tôi tìm kiếm mấy chục năm nay, sau cuộc chiến.

Ấn Huyệt Trị Liệu Và Bệnh Lupus

Đinh Nguyễn Thi, 10/5/2017

Ấn Huyệt Trị Liệu Và Bệnh Lupus


Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ. Với cách viết như nói chuyện trực tiếp, bà vui vẻ tự sơ lược về mình: Đinh Nguyễn Thi ở nhà gọi là The. Có chồng hai con. Năm nay mới 61 tuổi. Học xong lớp 9 trường làng. Ở nhà được cha mẹ nuôi. Qua Mỹ năm 1985, sau đó 3 năm có người đòi rước về nuôi đến nay.

Tiến sĩ Nguyễn Võ Long Kêu Gọi Chống Tàu Cứu Nước

Category: Thư Viện

Ngay trong giảng đường mang tên ông tại Đại học George Mason, Tiến sĩ Nguyễn Võ Long Kêu Gọi Chống Tàu Cứu Nước.  Lập Phong Trào Việt Hưng Nối Kết Người Việt Khắp Nơi

  • Cuộc chiến đấu sẽ dài 20-50 năm nhưng sẽ tất thắng
  • Sẽ huấn luyện hai thế hệ trẻ để tiếp nối